Tìm kiếm Blog này

Cách sạc pin điện thoại laptop

Phanblogs Cách sạc pin điện thoại laptop 
- Nên sạc khoảng ngắn: Pin sẽ lâu hơn nếu sạc ngắn. Ví dụ: sẽ tốt hơn nếu bạn sạc từ 30% đến 80%, hơn là sạc một mạch từ 15% lên tối đa 100%.

- Không nên sạc tới 100% khi máy đang mở: Điều này sẽ làm điện thoại gặp khó khăn trong việc xác định chính xác khi nào pin thực sự đầy. Pin giống như ly nước. Khi đầy là đầy. Chẳng có mẹo nào làm pin tăng dung lượng cả. Và pin sẽ không bao giờ thực sự đạt 100% khi đc sạc khi điện thoại không tắt.

- Đừng vui khi thấy pin điện thoại của bạn đầy ở mức 100% lâu hơn điện thoại người khác. Điều này chỉ chứng tỏ pin bạn sẽ mau chai hơn mà thôi.

- Sạc tới 100% là điều không nên làm vì nó sẽ khiến pin giảm tuổi thọ nhanh hơn nếu chỉ sạc đến 80 hay 90%. Vì vậy một vài điện thoại đã chuyển đèn LED báo hiệu sang màu xanh ngay khi pin đạt 90%.

- 90% đến 100% là lúc năng lượng sạc vào bị dồn nén nhất. Và nếu điều này xảy ra thường xuyên, pin sẽ tự giảm dung lượng, gây ra hiện tượng chai pin.

- Các loại pin trên smartphone mới ngày nay luôn được thiết kế để sạc liên tục. Dù bạn sạc liên tục xuyên suốt ngày với cổng USB hay sạc trên xe hơi thì pin sẽ không chai và thọ hơn so với khi bạn sạc đầy buổi sang, tối hết pin rồi cắm sạc qua đêm tới sáng để lấy lại 100%.

- Tóm lại: vấn đề không phải sạc bao nhiêu lần, mà là sạc bao nhiêu cho mỗi lần. Sạc trong thời gian ngắn với ít năng lượng sẽ cho pin thọ hơn sạc dài và dồn nhiều năng lượng.



Miếng da lừa Honoré de Balzac

Phanblogs  Miếng da lừa Honoré de Balzac Vì sở trường của Balzac là việc miêu tả cái xấu, cái ác trong xã hội tư sản một cách thấu đáo và sắc sảo qua hệ thống ngôn từ và phong cách thích hợp, và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra mối ác cảm của giới phê bình đương thời đối với Balzac.

Nên những nhân vật gây ấn tượng mạnh nhất và thành công nhất của Balzac là những nhân vật phản diện, thường được tác giả cho xuất hiện nhiều lần trong nhiều tác phẩm để người đọc theo dõi chặng đường phát triển tính cách, số phận, những bước thăng trầm trong cuộc chen chân trong thế giới đồng tiền, âm mưu và tội ác (Rastignac xuất hiện trong ba quyển: Lão Goriot, Bước thăng trầm của kỹ nữ, Miếng da lừa, hay Lucien Chardon xuất hiện trong Vỡ mộng, Bước thăng trầm của kỹ nữ, và Vautrin trong Lão Goriot.

Ngược lại, khía cạnh khẳng định cái đẹp trong các tác phẩm của Balzac bị cho là yếu: "Những nhân vật đức hạnh trong tiểu thuyết Balzac khá mờ nhạt..."[2]. hoặc: "Những nhân vật trong tiểu thuyết Balzac đều có cử chỉ tình cảm và phong cách thông tục. Khi muốn diễn tả sự thanh lịch quý phái, hào hiệp thì Balzac thường khoa trương một cách cầu kỳ: người phụ nữ đức hạnh và các cô thiếu nữ được khắc họa một cách ngượng nghịu..."[3]. Vd: Trong tác phẩm "Những quý bà cầu kỳ rởm", thì một số nhân vật đã bảo gia nhân mang ra "một thứ chất lỏng cần thiết cho cuộc sống" (nước) để mời khách.

Tiểu thuyết của Balzac phản ánh hiện thực xã hội không mấy tốt đẹp, nhưng chính Balzac lại từng khẳng định:" Xã hội đã tự tách ra hoặc xích lại gần hơn với những quy tắc vĩnh cửu, với cái chân thực, cái đẹp, tiểu thuyết phải là một thế giới tốt lành hơn..." (Lời tựa Tấn trò đời) Như vậy, thế giới nghệ thuật của Tấn trò đời không đơn thuần là phản ánh cái thiện, cái ác trong xã hội, mà điều Balzac mong mỏi chính là cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Nghệ thuật của Balzac cũng là vấn đề đã từng gây tranh cãi, khi vẫn có ý kiến cho rằng "ông có một bút pháp thiếu thoải mái, thiếu sự thuần chất, nhưng vững vàng cụ thể đầy cá tính thể hiện một khí chất mạnh mẽ", "lối văn tối tăm hỗn độn" (confus), "sự thông tục" (vulgaire)... Đứng trước những biểu hiện đó nhiều nhà phê bình thời trước như: nhà lý luận lãng mạn Sainte Beuve không thích lối thể hiện (văn phong) của Balzac, nhà hiện thực duy mỹ - nhà văn Gustave Flaubert đã "cau mày" nhận xét "giá như Balzac biết viết văn". Và đến thế kỷ XX nhà văn André Gide cho rằng Balzac đã làm cho tác phẩm của ông trở nên cồng kềnh bằng "những yếu tố hỗn tạp, hoàn toàn không thể đồng hóa được bằng tiểu thuyết". Còn Marcel Proust lưỡng lự trước câu hỏi "nghệ thuật của Balzac có hay không?". Đồng thời André Gide và Marcel Proust cũng thừa nhận rằng "có những nhược điểm không thể tách rời khỏi những tác phẩm của ông".


Miếng da lừa Honoré de Balzac .TXT


Miếng da lừa Honoré de Balzac .DOC


Miếng da lừa Honoré de Balzac .PDF




BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG The Last Lecture Randy Pausch

Phanblogs  Tôi có một vấn đề “kỹ thuật”. Trong khi hầu hết những phần khác của cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh, gan tôi lại có mười khối u và tôi chỉ còn một vài tháng để sống.

Tôi kết hôn với người phụ nữ lý tưởng của tôi, và là cha của ba đứa con nhỏ. Ðáng lẽ tôi phải sầu não cho thân phận của mình, nhưng như vậy sẽ chẳng mang lại điều tốt lành nào cho vợ con, hoặc cho tôi.
Vậy, nên sử dụng khoảng thời gian ít ỏi còn lại này như thế nào đây? Hiển nhiên là tôi nên sống và chăm sóc cho gia đình mình. Trong khi vẫn còn sức lực, tôi sẽ dành mọi thời gian cho vợ con, làm những điều thiết thực nhất để việc họ bước vào cuộc sống thiếu vắng tôi được dễ dàng hơn.
Phần ít hiển nhiên hơn là làm thế nào để dạy các con tôi những gì mà đáng ra tôi có thể dạy chúng trong hai mươi năm tới. Các con tôi còn quá nhỏ để có thể cùng trao đổi với tôi. Tất cả các bậc cha mẹ đều muốn dạy con biết phân biệt cái đúng với cái sai, dạy những gì ta nghĩ là quan trọng, và dạy chúng nên hành xử như thế nào trước những thách thức do cuộc sống mang tới. Chúng ta cũng muốn con cái biết một vài câu chuyện từ cuộc đời của chúng ta, đó thường là cách để dạy chúng lèo lái cuộc đời mình. Mong muốn làm điều đó đã đưa tôi tới việc thực hiện “bài giảng cuối cùng” tại Ðại học Carnegie Mellon[1].
Những bài giảng này bao giờ cũng được ghi hình. Tôi biết mình đã làm gì vào hôm đó. Duới mẹo đọc một bài giảng hàn lâm, tôi đã thử đưa mình vào một chiếc lọ, để một ngày nào đó, chiếc lọ sẽ trôi dạt trở về bãi biển, đến với các con tôi. Nếu là họa sĩ, tôi đã vẽ tranh cho các con. Nếu là nhạc sĩ, tôi đã sáng tác nhạc. Nhưng tôi lại là thầy giáo. Vậy nên tôi giảng bài.
Tôi đã nói về niềm vui của cuộc sống, rằng tôi yêu cuộc sống như thế nào, ngay cả khi cuộc sống của chính tôi chỉ còn rất ngắn. Tôi nói về sự trung thực, sự toàn vẹn, sự biết ơn, và những thứ khác mà tôi trân trọng. Và tôi đã rất cố gắng để những điều tôi nói không trở thành buồn chán.
Cuốn sách này là một cách giúp tôi tiếp tục những gì tôi đã bắt đầu trên bục giảng. Bởi thời gian là hết sức eo hẹp, và tôi muốn dành nhiều nhất như có thể cho các con tôi, nên tôi đã nhờ Jeffrey Zaslow giúp đỡ. Hàng ngày, tôi đạp xe quanh khu tôi ở để tập luyện. Trong năm mươi ba lần đạp xe như vậy, tôi đã chuyện trò với Jeff qua điện thoại di động. Jeff đã dành rất nhiều giờ để giúp chuyển những câu chuyện của tôi - có thể gọi là năm mươi ba “bài giảng” - thành cuốn sách này.
Không gì có thể thay thế được việc có cha mẹ sống bên cạnh. Nhưng đâu phải lúc nào ta cũng có được giải pháp hoàn hảo, vậy cần cố làm điều tốt nhất có thể với những tài nguyên hạn hẹp. Cả bài giảng lẫn cuốn sách này là nỗ lực của tôi để thực hiện chính điều đó.


BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG The Last Lecture Randy Pausch


BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG The Last Lecture Randy Pausch



"“Ðó là sự thật. Chúng ta không thay đổi được, chỉ có thể quyết định phải ứng xử ra sao. Chúng ta không đổi được những quân bài đã chia, chỉ có thể đổi cách chơi những quân bài đó.”"




Đi Tìm Lẽ Sống Viktor E. Frankl

Phanblogs Đi tìm lẽ sống của Viktor Frankl là một trong những quyển sách kinh điển của thời đại.

Thông thường, nếu một quyển sách chỉ có một đoạn văn, một ý tưởng có sức mạnh thay đổi cuộc sống của một người, thì chỉ riêng điều đó cũng đã đủ để chúng ta đọc đi đọc lại và dành cho nó một chỗ trên kệ sách của mình. Quyển sách này có nhiều đoạn văn như thế.

Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như nhiều người Do Thái sinh
sống tại Đức và Đông Âu khi ấy, vốn nghĩ rằng mình sẽ được an toàn trong những năm
1930, Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu nhiều nghiệt ngã trong trại tập trung và trại
hủy diệt của Đức quốc xã. Điều kì diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có
thể lột tả chính xác trường hợp này. Nhưng trong quyển sách này, tác giả ít đề cập đến
những khó nhọc, đau thương, mất mát mà ông đã trải qua, thay vào đó ông viết về những
nguồn sức mạnh đã giúp ông tồn tại. Nhiều lần trong quyển sách này, Frankl hay trích dẫn
lời của Nietzche[1]: “Người bày có lý do để sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”. Ông
chua xót kể về những tù nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy vọng ở tương lai và chắc
hẳn là những người đầu tiên sẽ chết. Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men, mà phần
lớn họ chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl đã nuôi giữ hy vọng để giữ
cho mình sống sót bằng cách nghĩ về người vợ của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng.
Ông còn mơ ước sau chiến tranh sẽ được thuyết giảng về các bài học tâm lý ông đã học
được từ trại tập trung Auschwitz. Rõ ràng có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết,
một số chết vì bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong tập sách này, Frankl tập trung lí giải
nguyên nhân vì sao có những người đã sống sót trong trại tập trung của phát xít Đức hơn là
đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao phần lớn trong số họ đã không bao giờ trở về nữa.
Những trải nghiệm kinh hoàng của tác giả trong trại tập trung Auschwitz đã củng cố một
trong những quan điểm chính của ông: Cuộc sống không phải chỉ là tìm kiếm khoái lạc, như
Freud[2] tin tưởng, hoặc tìm kiếm quyền lực, như Alfred Adler[3] giảng dạy, mà là đi tìm ý
nghĩa cuộc sống. Nhiệm vụ lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống của
mình. Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của đời người: thành tựu trong công
việc, sự quan tâm chăm sóc đối với những người thâ yêu và lòng can đảm khi đối mặt với
những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản thâ nó không có ý nghĩa gì cả, chính
cách phản ứng của chúng ta mới khoác lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một
người “có thể giữ vững lòng quả cảm, phẩm giá và sự bao dung, hoặc người ấy có thể quên
mất phẩm giá của con người và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh
khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít tù nhân của Đức quốc xã là có
thể giữ được những phẩm chất ấy, nhưng “chỉ cần một ví dụ như thế cũng đủ chứng minh
rằng sức mạnh bên trong của con người có thể đưa người ấy vượt lên số phận nghiệt ngã
của mình”.
Frankl luôn trung thành với quan điểm: Những thế lực vượt quá khả năng kiểm soát của
bạn có thể lấy đi mọi thứ mà bạn có, chỉ trừ một thứ, đó là sự tự do chọn lựa cách bạn phản
ứng trước hoàn cảnh. Tôi luôn áp dụng quan điểm này của Frankl trong suốt cuộc đời mình
cũng như trong vô số tình huống tư vấn. Bạn không thể kiểm soát điều gì sẽ xảy ra trong đời

mình, nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách đón nhận cũng như cách phản ứng trước mọi
tình huống của cuộc sống.
Có một cảnh trong vở kịch Incident at Vichy (Sự cố tại Vichy) của Arthur Miller, trong đó,
một người đàn ông trung lưu xuất hiện trước chính quyền Đức quốc xã, vốn đang chiếm
đóng thị trấn của ông và trưng ra bằng cấp của mình: tấm bằng đại học, các lá thư tham
khảo do những người có tiếng tăm viết, v.v. Tên lính Đức quốc xã hỏi ông: “mày chỉ có thế
thôi sao?”. Người đàn ông gật đầu. Tên lính quăng tất cả vào sọt rác và nói: “Tốt, giờ mày
chẳng còn gì nữa”. Người đàn ông cảm thấy bị tổn thương nặng nề. Frankl đã nói rằng
chúng ta sẽ không bao giờ mất đi tất cả nếu chúng ta vẫn còn được tự do lựa chọn cách
phản ứng với sự việc.
Trải nghiệm tôn giáo của tôi đã cho tôi thấy chân lý trong quan điểm của Frankl. Tôi biết
có nhiều doanh nhân thành công sau khi nghỉ hưu, đã mất hết mọi nhiệt huyết với cuộc
sống. Với họ, dường như ý nghĩa cuộc sống chỉ xoay quanh hai chữ “công việc”. Vì vậy, khi
không có việc làm nữa, họ cảm thấy cuộc sống trở nên vô vị. Mỗi ngày qua đi, họ lặng lẽ ngồi
trong nhà băn khoăn thấy mình “không biết làm gì”. Tôi biết nhiều người đã trưởng thành
từ khả năng chịu đựng phi thường của họ một khi họ có lòng tin rằng những tai họa, nghịch
cảnh của họ đang chịu đựng không vô ích. Đa phần đối với mọi người, việc có một lý do để
sống khiến cho họ có thể chịu được Mọi hoàn cảnh, có thể đó là mong muốn được cùng mọi
người trong gia đình gánh vác một trọng trách nào đó hoặc hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra
phương thuốc điều trị căn bệnh của họ.
Tuy Frankl và tôi có những trải nghiệm không giống nhau song những gì chúng tôi rút ra
được từ những bài học cuộc sống có nhiều điểm tương đồng. Những quan điểm trong tập
sách When bad Things Happen to Good People (Khi điều tồi tệ xảy ra với người tốt) có được
sự tín nhiệm của độc giả bởi vì chúng được rút ra từ chính những trải nghiệm của tôi trong
quá trình tìm hiểu căn bệnh dẫn đến cái chết của con trai mình. Trong khi đó, học thuyết về
liệu pháp ý nghĩa của Frankl trình bày phương thức chữa trị vết thương cho tâm hồn bằng
cách dẫn dắt nó đi tìm ý nghĩa cuộc sống, những trang viết được đúc kết từ trải nghiệm mà
tác giả phải chịu ở Auschwitz đã lập tức nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của độc giả. Bạn
không thể tiếp nhận toàn bộ giá trị sâu sắc của tập sách này nếu chỉ đọc phần sau mà bỏ qua
nửa đầu của cuốn sách.
Một điểm rất có ý nghĩa nữa, là lời đề tựa cho ấn bản năm 1962, được viết bởi Gordon
Allport - một nhà tâm lý học nổi tiếng, còn trong lần này, lời đề tựa được viết bởi một giáo
sĩ. đây là một quyển sách có bàn về những nội dung rất sâu sắc liên quan đến lĩnh vực tôn
giáo. Nó thể hiện tư tưởng chủ đạo của tác giả là cuộc sống co ý nghĩa và chúng ta phải học
cách nhìn cuộc sống theo hướng có ý nghĩa bất kể hoàn cảnh nào đi nữa. Tác phẩm cũng
nhấn mạnh một điều: cuộc sống này có một ý nghĩa tối hậu. Và trong bản gốc, trước khi bổ
sung phần tái bút, Frankl đã kết thúc quyển sách bằng những lời đậm chất tôn giáo nhất của
thế kỉ hai mươi:
Chúng ta đã đến chỗ biết được Con người thực sự là gì. Rốt cuộc, con người là hữu thể đã
tạo ra phòng hơi ngạt ở Auschwitz, nhưng cũng là hữu thể hiên ngang bước vào phòng hơi
ngạt với kinh Lạy Cha hoặc câu kinh Shema Yisrael[4] trên môi.
HAROLD S. KUSHNER[5]

LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN NĂM 1992
Cho đến nay, quyển sách này được phát hành gần 100 lần bằng tiếng Anh và đã được
xuất bản dưới 21 ngôn ngữ. Chỉ riêng các bản tiếng Anh đã được bán hơn 3 triệu bản.
Những thông số trên hoàn toàn là sự thật, và có lẽ chúng là lí do tại sao các phóng viên
của nhiều tờ báo ở Mỹ, nhất là các đài truyền hình Mỹ thường bắt đầu buổi phỏng vấn, sau
khi đã liệt kê các con số thực tế, bằng lời ca tụng: “Thưa tiến sĩ Frankl, cuốn sách của ông
luôn nằm trong danh sách những ấn phẩm được đông đảo độc giả đánh giá cao. Ông cảm
thấy thế bày về thành công này?”. Lúc ấy tôi luôn trả lời rằng trước hết, tôi không hề xem
tình trạng ăn khách của cuốn sách là một thành tựu hay thành công gì về phía bản thân tôi
cho bằng đó là biểu hiện cho nỗi bất hạnh của thời đại: nếu hàng trăm ngìn người tìm kiếm
một cuốn sách mà tiêu đề của nó hứa hẹn sẽ giải quyết vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, thì đây
chắc hẳn là một vấn đề gai góc với họ.
Hiển nhiên, ấn tượng của cuốn sách còn nhờ đến những yếu tố khác nữa. Phần hai nặng
tính lý thuyết hơn, và có thể nói nó đã cô đọng thành bài học mà người đọc có thể rút ra từ
phần đầu cuốn sách, phần tự thuật. Trong khi đó, phần một có tác dụng như những bằng
chứng xác thực, là cơ sở thực tế cho các lý thuyết của tôi. Như vậy, cả hai phần đều giúp cho
nhau có được tính thuyết phục.
vào năm 1945, khi thực hiện tập sách này, trong đầu tôi chưa bao giờ có ý niệm rằng
mình viết sách để trở thành người nổi tiếng hay đạt được thành công gì đó. Trong suốt 9
ngày liên tiếp, tôi đã trăn trở rất nhiều trước khi đi đến quyết định không tiết lộ tên người
viết. Sự thật là, bản in đầu tiên bằng tiếng Đức đã không có tên tôi trên trang bìa, mặc dù
vào phút cuối, trước khi sách được xuất bản, tôi đồng ý để tên mình trong trang tiêu đề theo
lời khuyên của bạn bè. Trong tôi luôn đinh ninh một điều rằng một tác phẩm khuyết danh
sẽ không thể nào đem lại tên tuổi cho tác giả. Mục đích của tôi đơn thuần chỉ là muốn
chuyển tải đến độc giả một ví dụ cụ thể, cho thấy rằng trong mọi hoàn cảnh, cuộc sống bao
giờ cũng chứa đựng một ý nghĩa nào đó, cho dù đó là hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Và tôi cho
rằng nếu một quan điểm được minh họa từ những trải nghiệm khắc nghiệt như ở trại tập
trung thì cuốn sách của tôi sẽ thêm tính thuyết phục. Vì vậy, tôi cảm thấy có trách nhiệm
viết ra những gì mình đã trải qua, bởi vì tôi nghĩ rằng nó có thể giúp được những người
đang trên bờ tuyệt vọng.
Và vì thế, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ và chú ý là - trong số hàng chục cuốn sách mà tôi
là tác giả thì chính cuốn này, cuốn sách mà tôi có ý định giữ kín tên tuổi lại đạt được thành
công. Vì vậy, rất nhiều lần, tôi đã răn bảo các học trò của mình ở châu Âu và ở Mỹ rằng:
“Đừng nhắm vào thành công - vì các em càng nhắm vào nó, và muốn đạt tới nó, thì các em
càng dễ trượt qua nó. Vì thành công, cũng giống như hạnh phúc, không thể tìm kiếm mà có;
nó phải tự sản sinh ra, và chỉ có thể xuất hiện khi một người cống hiến hết mình, hoặc sống
vì người khác hơn là vì bản thân mình. Hạnh phúc sẽ đến, và thành công cũng sẽ xuất hiện:
các em phải để nó diễn ra bằng cách đừng quan tâm đến nó. Tôi muốn các em lắng nghe
những gì mà lương tâm các em ra lệnh phải làm và tiếp tục thực hiện hết mình. Và các em sẽ
thấy rằng về lâu dài - tôi nhấn mạnh là về lâu dài - thành công sẽ đến với các em bởi vì các
em đã quên nghĩ về nó!”.

các độc giả có thể thắc mắc tại sao tôi không tìm cách thoát ly sau khi Hitler chiếm Áo.
Hãy để tôi trả lời bằng cách kể lại câu chuyện sau. Ngay trước khi nước Mỹ tham chiến, tôi
nhận được thư mời đến Lãnh sự quán Mỹ đặt tại Vienna để nhận giấy thị thực nhập cảnh
đến Mỹ. Cha mẹ tôi rất vui mừng vì họ muốn tôi nhanh chóng rời khỏi nước Áo. Thế nhưng
tôi bỗng nhiên do dự: Liệu tôi có thể để cha mẹ ở lại một mình đối mặt với số phận, và
chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ bị đưa đến trại tập trung, hoặc thậm chí bị đưa đến trại hủy
diệt? Lẽ bày tôi là một người vô trách nhiệm? Liệu tôi có nên đi đến một vùng đất trù phú,
có những điều kiện thuận lợi giúp tôi nuôi dưỡng đứa con tinh thần của mình - Liệu pháp ý
nghĩa (logotherapy)? Hay tôi nên nhận lãnh trách nhiệm của một người con hiếu thuận đối
với cha mẹ - những người đã không tiếc cả mạng sống của mình để bảo vệ tôi? Tôi đã đắn
đo, trăn trở rất nhiều nhưng vẫn không thể đưa ra quyết định cuối cùng. đây đúng là tình
huống khó khăn như khi người ta chỉ được ước một lần.
Chính khi đó, tôi trông thấy một mẩu đá hoa nằm trên mặt bàn. Tôi hỏi cha, và ông giải
thích rằng ông đã tìm thấy nó tại nơi mà những người theo Đảng Xã hội quốc gia đã thiêu
cháy thánh đường lớn nhất của người Do Thái tại Vienna. Mẩu đá cha tôi mang về nhà là
một phần của những phiến đá có khắc Mười điều răn của Chúa, trong đó có một ký tự tiếng
Hebrew mạ vàng được khắc trên phiến đá; cha tôi nói rằng ký tự này đại diện cho một trong
Mười điều răn. Tò mò, tôi hỏi ông: “Thưa cha, điều răn đó nói gì ạ?”. Ông trả lời: “Hãy tôn
kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu trên đất”. vào lúc đó, tôi đã quyết định ở lại với cha mẹ
của mình trên mảnh đất này, và tấm vé thị thực nhập cảnh sang Hoa Kỳ đã không có cơ hội
được dùng đến.
VIKTOR E. FRANKL
Vienna - Áo, 1992


Đi Tìm Lẽ Sống Viktor E. Frankl.doc


Đi Tìm Lẽ Sống Viktor E. Frankl. pdf


Đi Tìm Lẽ Sống Viktor E. Frankl txt




Ăn mày dĩ vãng tác giả Chu Lai

Phanblogs Ăn mày dĩ vãng tác giả Chu Lai
Ăn mày dĩ vãng xoay quanh người cựu binh Hai Hùng, một chiến sĩ quân giải phóng vùng ven đô thành Sài Gòn từ thời Chiến tranh Việt Nam trở về với đời thường trong hiện tại, đã làm một cuộc hành trình lần ngược quá khứ; đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ đến hiện tại; nhằm tìm lại người yêu đồng thời cũng là đồng chí của mình.


Hòa bình, những người lính kiêu dũng trong chiến tranh phần lớn đã "về vườn, ăn theo, núp váy vợ. Đứa thì say xỉn tối ngày nằm trên võng nắng; đứa thì lụi hụi trồng tỉa ngoài bưng, mở mồm là càu cạu; đứa thì thở dài phìn phịt giữa một bên là bầy con nhem nhuốc, một bên là thạp gạo chỉ còn cám mùn đọng quẩn dưới đáy; thằng kia sống trụi thùi lụi một mình, hỏi nhà cửa vợ con đâu chỉ giơ cái chai đế lên cười xệch xẹo". Nhưng cũng có những người như Quân trước là cậu bé giao liên, nay là phó chủ tịch huyện, biết làm giàu cho quê hương và cho bản thân; hoặc như Tuấn, như Tám Tính đã hòa nhập tự nhiên với cuộc sống đời thường và không những thế còn vươn lên làm chủ cuộc sống mới. Trên hết vẫn là nhân vật Hai Hùng, "không vợ không con, không cắc bạc dính túi nhưng có mảnh quá khứ đập phập phồng trong lồng ngực", với lý tưởng "Cuộc đời một thằng lính còn có gì khác hơn là khôn nguôi hướng về dĩ vãng và cầu mong cho dĩ vãng đó luôn trong lành chân thật", một cá tính ít nhiều lạc điệu trong thời hiện tại, nơi "người ta đã hầu hết đều bảo nhau quay lưng lại với quá khứ".

Một ngày như mọi ngày trong thời hậu chiến tại một nhà hàng sang trọng, Hai Hùng tình cờ gặp một người đàn bà với tất cả phong thái, dáng nét của người yêu cũ Ba Sương từ thời chiến tranh của anh. Người con gái bị cho là đã chết mà chính Hai Hùng là người tiến hành cướp xác và chôn cất, ngờ đâu giờ vẫn còn hiện hữu giữa nhân gian với một cái tên khác, Tư Lan, và đang rất thành đạt trên cương vị một nữ giám đốc Sở lâm nghiệp đầy quyền uy, làm ăn nức tiếng lục tỉnh miền Tây. Màn sương mờ phủ của thời gian, những hoài nghi hư thực từ lý trí của nhân vật chính không ngăn nổi linh cảm, rung động và tiếng gọi tự con tim khẳng định chắc chắn người đàn bà thành đạt kia chính là cố nhân của anh. Tất cả đã thôi thúc Hai Hùng tìm về quá khứ, sống lại một thời hoa lửa hào hùng và bi tráng ở cương vị một chiến sĩ, người đội trưởng đặc nhiệm, với những kỷ niệm tình yêu ngọt ngào bên cô y tá, xã đội trưởng Ba Sương. Đây là một hành trình lần ngược ký ức với những day dứt, ân hận của nhân vật tôi vì đã chạy vào hầm trước và không chạy ra cứu người mình yêu khi khoảng cách chỉ là ba chục mét để có thể sống chết bên nhau, để rồi thất lạc nhau từ đó và cùng cuộc tráo xác với Hai Hợi đã khiến Hai Hùng đinh ninh sự thật là Ba Sương đã hy sinh.

Nhưng cuộc kiểm tìm trong mê mải quá khứ, tình yêu, cái đẹp của nhân vật chính cũng đong đầy gian lao, trắc trở khi người tình cũ của anh thỏa hiệp với cái ác, cố tình chạy trốn quá khứ, không dám đối diện với chính mình để yên tâm sống với hiện tại("Ngay cả cái chuyện ai đang nằm dưới mộ kia cũng là một lý do sâu xa và bất cập để cô ấy tự chối bỏ mình"). Trong cùng một thời điểm dường như người ăn mày quá khứ và người chạy trốn quá khứ lại cùng song hành ngược chiều nhau, để rồi cuộc tìm được và nhận ra nhau. Nhưng mọi sự đã quá muộn mằn, dẫu cuộc kiếm tìm này đã kết thúc và các bí ẩn đã được giải mã, dẫu tình yêu ngày nào dường như vẫn vẹn nguyên sự trong trẻo và thủy chung, họ lại không thể đến được với nhau nữa. Ba Sương không hy sinh trong chiến tranh, đã chết đúng cái ngày mà hai người tìm lại được nhau trong thời bình và mọi chuyện trở nên rõ ràng.

Truyện kết thúc ở một nhận định và một câu hỏi khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi "cuộc chiến tranh vừa qua có thể là trò đùa nhưng sự mất mát lại là có thật. Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn tuồng nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch cả".


Ăn mày dĩ vãng tác giả Chu Lai. pdf


Ăn mày dĩ vãng tác giả Chu Lai.docx




Trên Internet, không ai biết bạn là một con chó

Phanblogs "On the Internet, nobody knows you're a dog" (tạm dịch: Trên Internet, không ai biết bạn là một con chó - Sửu nhi) 


là một câu cách ngôn xuất phát từ lời đề tựa một bức tranh biếm họa của họa sĩ Peter Steiner đăng trên tờ The New Yorker ngày 5 tháng 7 năm 1993.

Bức tranh vẽ hai con chó : một con ngồi trước máy tính và nói lời đề tựa cho con chó  thứ hai ngồi dưới sàn.

Năm 2000, đây là bức tranh biếm họa được tái bản nhiều nhất của The New Yorker, và tác giả Steiner thu được $50.000 từ việc tái bản bức tranh này.

Peter Steiner là một họa sĩ vẽ truyện tranh và người đóng góp cho The New Yorker từ năm 1979. Ông nói rằng bức tranh biếm họa này ban đầu không được chú ý lắm, nhưng về sau nó tự tạo được cho mình một cuộc sống riêng, và ông có cảm giác giống như người đã tạo nên các biểu tượng mặt cười (smiley face). Thực ra, Steiner không có hứng thú với Internet khi ông vẽ bức tranh và mặc dù ông có một tài khoản trực tuyến, ông nhớ lại rằng mình không có ý gì uyên thâm trong bức tranh, ông chỉ vẽ nó trong một kiểu "tạo-một-lời-đề-tựa" cho tranh vẽ.

"Tôi không rõ lắm vì sao nó được biết đến và thừa nhận một cách rộng rãi đến thế"

Như là một lời bình luận về sự riêng tư trên Internet

Bức tranh biến họa này đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của Internet. Đã có một thời, chỉ có những người làm trong chính phủ mới được sử dụng Internet nhưng giờ nay Internet đã trở thành chủ đề để thảo luận hàng ngày tương đương như các tạp chí The New Yorker. Nhà chế tạo ra chương trình máy tính Lotus 1-2-3 và nhà hoạt động Internet Mitch Kapor đã từng nói, trong một bài báo của tạp chí Time vào năm 1993, "dấu hiệu thật sự nói lên sự phổ biến rộng rãi của Internet đã đạt tới đỉnh cao nhất vào mùa hè này khi một người New York in một bức tranh biến họa miêu tả hai chú chó ranh mãnh".

Bức tranh biểu tượng hóa cho một sự hiểu biết về sự riêng tư trên Internet. Điều đó nhấn mạnh quyền của người dùng Internet để gửi và nhận tin nhắn trong một tình trạng hầu như là ẩn danh. Lawrence Lessig đề ra giả thuyết là sẽ "không ai biết" (no one knows) bởi vì bộ giao thức TCP/IP không đòi hỏi người dùng nó phải nêu ra danh tính của họ.

Một nghiên cứu bởi Morahan-Martin và Schumacher (2000) về sự nghiện sử dụng Internet có tính nguy hại đề cập hiện tượng này, đưa ra giả thuyết rằng khả năng biểu lộ chính mình đằng sau màn hình máy tính có thể là một phần của sự thôi thúc phải kết nối với Internet.

Câu cách ngôn trên (On the Internet, nobody knows you're a dog) 

được ông John Gilmore, một nhân vật chủ chốt trong lịch sử Usenet, phân tích nghĩa như sau


"không gian ảo sẽ trở nên tự do bởi vì giới tính, chủng tộc, ngoại hình, và ngay cả 'tính chó' đều có khả năng không hề tồn tại, hay giả vờ đủ kiểu, hay phóng đại với những đảm bảo không được kiểm chứng vì nhiều mục đích khác nhau cả hợp pháp và không hợp pháp".


Câu thành ngữ còn nêu ra một khả năng trên mạng có thể mặc đồ khác phái và đóng vai của một cá nhân ảo để trở thành một giới tính, tuổi, chủng tộc khác...

Ở một góc nhìn khác, "đó là sự tự do mà con chó - Sửu nhi có thể lựa chọn để làm lợi cho nó qua sự trở thành một phần của một nhóm có nhiều đặc quyền; có nghĩa là con chó - Sửu nhi có được những đặc quyền như những con người sử dụng máy tính có kết nối Internet. 

Mạnh Mẫu và Tăng Sâm

Phanblogs Cách đây chừng nửa thế kỷ, Adolf Hitler từng nói ra những lời này không chút ngượng ngùng: “Lời nói dối lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành sự thực”. Những chuyện đổi trắng thay đen như vậy quả không hiếm trong lịch sử.


Tăng Sâm (505 – 435 TCN), tự Tử Dư, người nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Ông là một trong những môn đồ xuất sắc nhất của Khổng Tử, nối được chí lớn của thầy. Ông soạn ra sách Đại Học , một trong Tứ Thư của Nho gia ( Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử ). Các môn đồ sau này gọi ông bằng cái tên trân trọng là Tăng Tử.


Ông cũng nổi tiếng là người chí hiếu với cha mẹ. Người đời sau liệt ông vào danh sách “ Nhị thập tứ hiếu ” (24 tấm gương hiếu thảo). Có lần, mẹ ông đánh đòn, Tăng Sâm khóc nức nở. Mẹ hỏi vì sao mọi lần không khóc, lần này lại khóc. Tăng Sâm đáp lời: “Thưa mẹ! Những lần trước con đau nên biết mẹ còn khỏe. Nay con không thấy đau nữa nên khóc vì thấy thương mẹ đã già yếu”.


Tăng Sâm có một giai thoại nổi tiếng, có thể gợi nhiều suy ngẫm cho hậu thế.


Chuyện kể rằng, thuở hàn vi, Tăng Sâm ở đất Phi, có một kẻ trùng tên với ông giết chết người.

Hàng xóm hớt hải chạy đến báo tin dữ cho mẹ Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà lại điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc sau, lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi như không.

Thêm một lúc nữa, lại có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”. Lần này thì bà sợ cuống cuồng, quăng thoi, vứt khung, vội trèo qua tường chạy trốn.


Lời bình: 

Tăng sâm


Tăng Sâm bình sinh là người rất trọng chữ hiếu, chữ tín, lại là học trò chân truyền của Khổng Tử, có đời nào lại đi làm chuyện bất nghĩa, sát nhân như vậy? Mẹ Tăng Sâm cũng rất mực hiểu con, chẳng bao giờ tin chuyện con mình có thể làm điều ác.

Đột nhiên có kẻ chạy tới báo “Tăng Sâm giết người”, đương nhiên bà lão chẳng bao giờ tin. Nhưng thói đời thường rất khó lường. “Quá tam ba bận”, đến kẻ thứ ba bảo Tăng Sâm giết người thì bà lão có muốn không tin cũng không được.

Cái dư luận của người đời quả là có sức mạnh phi thường. Có câu “Trăm năm bia đá cũng mòn. Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”. Một chuyện dẫu là tưởng tượng nhưng qua hai, ba cái miệng đồn thổi lên thì người ta không khỏi tưởng như sự thật đã xảy ra đến nơi.

Thời trước, thông tin còn thiếu thốn và bị ngăn trở nhiều, một tin đồn cũng có sức mạnh như hàng vạn hùng binh. Đến bây giờ, dẫu là thời đại của khoa học kỹ thuật, thời đại của thông tin mà những chuyện “lộng giả thành chân” (biến giả thành thật) như vậy vẫn thường xảy ra.


MẠNH MẪU

Mạnh mẫu là mẹ của thầy Mạnh Tử. Thường nói Mạnh mẫu trạch lân, nghĩa là : Bà mẹ của Mạnh Tử chọn chỗ ở có láng giềng tốt mới ở để dễ dạy con.

Theo Liệt Nữ Truyện, Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, mồ côi cha từ năm 3 tuổi, ở với mẹ, nhà nghèo, ở gần nghĩa địa nơi chân núi. Mạnh Kha thường thấy người ta đào đất đem chôn quan tài người chết, rồi nằm lăn ra khóc. Mạnh Kha về nhà, cùng với lũ trẻ nhỏ ở cùng xóm, bắt chước chơi trò chôn cất và nằm lăn ra khóc.
Mẹ của Mạnh Kha là Bà Chương thị, thấy thế thì nói rằng :

- Chỗ nầy không phải là chỗ cho con ta ở được.

Bà dọn nhà ra ở gần chợ. Mạnh Tử thấy người ta buôn bán, tráo trở đảo điên, thêm bớt, nói thách nói gạt. Cậu bé Mạnh Kha về nhà cũng bắt chước đùa nghịch một cách đảo điên như người ở ngoài chợ.
Bà mẹ của Mạnh Kha thấy thế thì nói :

- Chỗ nầy cũng không phải là chổ để con ta ở được.

Bà liền dọn nhà đến ở cạnh một trường học. Câu bé Mạnh Kha thấy trẻ con đua nhau cặp sách vở đi học tập rất có lễ phép, cậu về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép và cặp sách vở. Bà mẹ của Mạnh Kha bây giờ mới vui lòng nói :

- Chỗ nầy con ta ở được. 

Một hôm, Mạnh Kha thấy nhà hàng xóm giết heo làm thịt, về nhà hỏi mẹ :
- Người ta giết heo để làm gì thế hả mẹ ?
Mạnh mẫu nói đùa với con :
- Để cho con ăn thịt đấy.
Nói xong, Bà biết mình lỡ lời nên ân hận, thầm nghĩ : Ta đã nói lỡ lời rồi. Con ta còn thơ ấu, trí thức mới mở mang, mà ta nói dối với nó thì chẳng hóa ra ta dạy nó nói dối sao !
Rồi Bà ra chợ mua thịt heo về nấu cho con ăn thật.
Lại một hôm, cậu Mạnh Kha đi học, bỗng bỏ về nhà chơi. Mạnh mẫu đang ngồi dệt vải trên khung cữi, bèn đứng dậy, kêu con lại, chỉ tấm vải trên khung, rồi Bà cầm dao cắt ngang. Cậu bé Kha cả kinh hỏi mẹ :
- Sao mẹ lại cắt ngang bỏ tấm vải như thế ?
Mạnh mẫu đáp :

- Con đang đi học mà con bỏ ngang trở về nhà thì cũng giống như mẹ đang dệt tấm vải nầy mà cắt ngang như thế.

Cậu bé Kha liền hiểu được ý mẹ, cậu cảm thấy xấu hổ, và từ hôm đó trở đi, cậu chuyên cần học tập, không dám chểnh mảng, cậu hay học tập việc tế lễ, việc học mỗi ngày một tăng tiến.

Khi lớn lên, Mạnh Kha theo học với thầy Tử Tư, tức là thầy Khổng Cấp, cháu nội của Đức Khổng Tử.


Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim

Phanblogs Từ điển thành ngữ sao Kim / sao Hỏa Sau khi dùng cuốn từ điển này một vài năm, người đàn ông không cần mở nó ra mỗi khi bị nghe kêu ca phàn nàn nữa. Anh ta đã bắt đầu hiểu cái cách người phụ nữ suy nghĩ và cảm nhận. Anh biết rằng không nên hiểu chúng theo nghĩa đen. Đó chỉ là cách mà người phụ nữ muốn biểu đạt đầy đủ cảm xúc của mình. Đó là những điều mà đàn ông sao Hỏa phải nhớ khi đến sao Kim.



“Chúng ta chưa bao giờ đi chơi” được dịch sang cho người đàn ông hiểu phụ nữ muốn nói “Em muốn chúng ta đi chơi và cùng làm điều gì đó. Chúng ta nên có thời gian vui vẻ và em rất muốn ở bên anh. Anh nghĩ gì về điều này? Anh sẽ mời em ăn tối chứ? Đã lâu rồi chúng ta chưa đi chơi?”


Nếu không có :) sự chú giải này người đàn ông có thể sẽ hiểu là “Anh không làm việc này. Thật là đáng thất vọng khi anh trở nên như vậy. Chúng ta chưa bao giờ làm gì cùng nhau bởi vì anh lười

biếng, không lãng mạn và thật là nhàm chán”.

“Tất cả mọi người đều không quan tâm đến tôi” nên được hiểu là “Hôm nay, em cảm thấy không được ai quan tâm cũng không được đánh giá đúng mức. Em thấy như không ai nhìn thấy mình. Tất nhiên em biết có một vài người thấy em nhưng họ dường như chẳng quan tâm gì đến em cả. Em thất vọng khi anh cứ luôn luôn bận rộn. Em thật sự hiểu anh đã làm việc vất vả như thế nào, nhưng thỉnh thoảng em cảm thấy mình không còn quan trọng với anh nữa. Em sợ rằng anh coi công việc còn quan trọng hơn em. Anh có thể ôm em trong vòng tay và nói cho em nghe em đặc biệt đối với anh thế nào không?”


Nếu không có :) sự diễn giải này thì khi người phụ nữ nói như vậy,

người đàn ông có thể hiểu sai như sau: “Em thật bất hạnh. Em

không có được sự quan tâm mà em mong muốn trong khi anh lại là

người được cho là người rất yêu em. Anh phải tự thấy xấu hổ chứ.

Anh thật là không tốt. Em chưa bao giờ tảng lờ anh đi như vậy”.


“Em mệt, em không thể làm gì cả” sẽ được dịch cho người đàn ông sao Hỏa hiểu là “Hôm nay em đã phải lao động quá vất vả. Em cần nghỉ ngơi thực sự trước khi có thể làm thêm bất cứ điều gì. Em thật may mắn có người chồng biết thông cảm. Anh có thể ôm em trong vòng tay và làm em yên lòng rằng em đã làm một việc tốt và em xứng đáng được nghỉ ngơi”.


Không có lời chú giải này, khi người phụ nữ nói vậy, người đàn

ông sẽ hiểu nhầm: “Em phải làm tất cả mọi thứ trong khi anh không

làm gì cả. Anh nên làm nhiều hơn. Em không thể tự làm tất cả mọi

việc. Em cảm thấy thật thất vọng. Em muốn một người đàn ông thực

sự. Lựa chọn anh thật là một sai lầm lớn”.


“Em muốn quên đi tất cả mọi thứ” có nghĩa là “Em muốn anh hiểu rằng em yêu công việc và cuộc sống biết bao nhưng hôm nay em bị chôn vùi. Em thích làm một cái gì đó cho riêng mình trước khi lại mang lấy trách nhiệm. Anh sẽ hỏi em “Có chuyện gì xảy ra với em?” và lắng nghe em nói với sự cảm thông mà không cần đưa ra bất kỳ giải pháp nào chứ? Em chỉ muốn anh hiểu áp lực mà em đang cảm thấy. Điều đó sẽ an ủi em rất nhiều. Nó sẽ giúp em thư giãn. Hôm sau em sẽ quay về với những bổn phận của mình”.


Nếu không có :) sự giải thích này, người đàn ông có thể hiểu điều

đó như sau “Em phải làm nhiều đến mức em không muốn làm nó

nữa. Em thật bất hạnh khi sống với anh và mối quan hệ của chúng

ta. Em muốn một người bạn đời tốt hơn thế, người đó có thể đem

đến cho em cuộc sống thỏa mãn hơn. Anh đang làm một việc thật

khủng khiếp”.


“Ngôi nhà lúc nào cũng bừa bãi” sẽ được giải thích là “Hômnay em muốn nghỉ ngơi, nhưng nhà bừa bãi quá. Em thấy chán và cần thư giãn. Em hy vọng anh không trông chờ em dọn dẹp tất cả. Anh có đồng ý với em rằng nó thật bừa bãi và sau đó đề nghị giúpem dọn dẹp không?”


Nếu không có :) sự chú giải, người đàn ông sẽ hiểu “Ngôi nhà

bừa bãi như thế này là do anh. Em đã làm tất cả những gì có thể để

dọn dẹp nó và trước khi em dọn xong anh đã lại bầy bừa ra. Anh

thật là một kẻ lười biếng bẩn thỉu và em không còn muốn sống với

anh chừng nào anh không thay đổi. Dọn dẹp hoặc quét dọn đi”.


“Không ai quan tâm đến tôi cả” có nghĩa người phụ nữ muốn nói “Em sợ em đang chán anh. Em sợ anh không còn quan tâm đến em nữa. Hôm nay em rất nhạy cảm. Anh có thể quan tâm đặc biệt tới em không? Em rất thích điều đó. Em đã có một ngày vất vả và cảm thấy như không ai muốn nghe những gì em nói. Anh sẽ lắng nghe em nói và hỏi em những câu hỏi thông cảm như: “Hôm nay có chuyện gì xảy ra với em vậy? Có chuyện gì khác đã xảy ra phải không? Em cảm thấy thế nào? Em muốn gì nào? Em cảm thấy khác như thế nào?” Anh cũng chia sẻ với em bằng cách nói những lời nói quan tâm, tỏ ra lưu ý và làm yên lòng em bằng lời nói như: “Hãy nói với anh” hoặc “Em biết cái anh định nói mà” hay “Anh hiểu” hay đơn giản chỉ là lắng nghe, khi em tạm dừng một lát hãy đệm những tiếng có thể xoa dịu “ồ” “hừm” “à, hừm” (Chú ý rằng: Đàn ông sao Hỏa chưa bao giờ nghe thấy những âm thanh này trước khi tới sao Kim).


Không có sự chú giải này, khi nghe nói vậy người đàn ông sẽ

hiểu phụ nữ có ý rằng “Em luôn quan tâm đến anh nhưng anh chẳng

bao giờ lắng nghe em. Anh ngày càng trở nên một con người nhàm

chán. Em muốn một ai đó thú vị và biết quan tâm mà anh lại chẳng

phải là người đó. Anh làm em thất vọng, anh thật ích kỷ, thiếu quan tâm và rất tồi”.


“Không làm được việc gì cả” có nghĩa là người phụ nữ muốn nói “Hôm nay em rất thất vọng và em rất vui nếu anh có thể chia sẻ với em. Nó giúp em thấy tốt hơn. Hôm nay hình như em chả làm được gì cả. Em biết điều đó không đúng nhưng em cảm thấy mình bị nhấn chìm trong một núi công việc mà đáng lẽ em phải làm. Anh sẽ ôm em trong vòng tay và nói với em rằng em đang làm một việc vĩ đại. Chắc chắn em sẽ thấy tốt hơn”.


Nếu không có :) sự chú thích này, người đàn ông sẽ hiểu nhầm là

“Anh chưa bao giờ làm một cái gì cho ra hồn cả. Em không thể tin

tưởng vào anh. Nếu em không nghe anh, em đã không ở trong đống

lộn xộn này. Người đàn ông khác chắc chắn sẽ làm tốt, còn anh chỉ

làm chúng tồi tệ hơn”.


“Anh không yêu em chút nào” nghĩa là cô muốn nói “Bây giờ em cảm thấy anh không còn yêu em nữa. Em sợ em ngày càng xa cách anh. Em biết anh vẫn yêu em và anh đã làm rất nhiều cho em. Hôm nay em chỉ cảm thấy ít tin cậy hơn. Anh đã cam đoan với em về tình yêu chung thủy của mình và nói với em chỉ 3 từ kỳ diệu đó thôi là đủ “Anh yêu em”. Khi anh làm vậy, mọi thứ sẽ tốt hơn lên rất nhiều”.


Nếu không có :) sự giải thích người đàn ông sẽ hiểu nhầm là “Em

đã dành cho anh những ngày tháng tốt đẹp nhất của đời mình và anh

chẳng cho em gì cả. Anh chỉ lợi dụng em mà thôi. Anh thật ích kỷ và

lạnh lùng. Anh chỉ làm theo cái mà anh muốn vì bản thân anh và vì

bản thân anh mà thôi. Anh không biết quan tâm đến ai khác. Em

thật là một kẻ ngốc nghếch khi yêu anh. Bây giờ thì em chẳng có gì cả”.


Khi người phụ nữ nói: “Chúng ta lúc nào cũng vội vã” người đàn ông nên hiểu là “Em thấy rất vội vàng. Em không thích việc lúc nào cũng phải vội vàng. Em ước gì cuộc sống không vội vàng đến thế. Em biết chẳng ai có lỗi trong chuyện này và chắc chắn không phải lỗi của anh. Em biết anh đã cố gắng hết sức để chúng ta tới đó đúng giờ và em thực sự đánh giá cao nỗ lực đó. Hãy thông cảm với em và nói một điều gì đó giống như “Thật là khó chịu khi thường xuyên phải vội vàng. Anh cũng không thích điều đó”.



Không có lời chú giải này người đàn ông có thể hiểu: “Anh thật

vô trách nhiệm. Anh luôn đợi đến phút cuối mới làm mọi việc. Em

chưa bao giờ hạnh phúc khi sống với anh. Chúng ta phải thường

xuyên vội vàng để khỏi bị muộn. Anh đã phá hủy mọi thứ kể từ khi

em sống với anh. Em chỉ hạnh phúc hơn khi không ở bên anh”.


Câu “Em muốn lãng mạn hơn” nên được hiểu là “Tình yêu của em, anh đã liên tục phải làm việc vất vả rồi. Hãy dành ít phút cho riêng chúng ta. Em rất thích khi chúng ta có thể nghỉ ngơi và một mình bên nhau cùng với những nụ hôn ngọt ngào và không có bất cứ một áp lực công việc nào. Anh thật lãng mạn. Anh sẽ gây bất ngờ cho em với những bông hoa xinh đẹp và đưa em đi chơi trong trọn vẹn một ngày chứ? Em rất thích sự lãng mạn”.


Nếu không được giải thích, người đàn ông có thể hiểu là “Anh

không làm em hai lòng chút nào. Anh không hấp dẫn với em. Anh

chưa có đủ những kỹ năng lãng mạn. Em chưa bao giờ cảm thấy

thực sự thỏa mãn. Em ước gì anh giống những người đàn ông khác

mà em biết”. Sau khi dùng cuốn từ điển này một vài năm, người đàn ông

không cần mở nó ra mỗi khi bị nghe kêu ca phàn nàn nữa. Anh ta

đã bắt đầu hiểu cái cách người phụ nữ suy nghĩ và cảm nhận. Anh

biết rằng không nên hiểu chúng theo nghĩa đen. Đó chỉ là cách mà

người phụ nữ muốn biểu đạt đầy đủ cảm xúc của mình. Đó là những

điều mà đàn ông sao Hỏa phải nhớ khi đến sao Kim.

Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim. pdf


Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim.doc

Cardiopulmonary resuscitation hồi sinh tim phổi bằng ấn tim thổi ngạt

Phanblogs CPR đúng cách như thế nào? Cardiopulmonary resuscitation (viết tắt: CPR), tức hồi sinh tim phổi bằng ấn tim, thổi ngạt, áp dụng cho các trường hợp nạn nhân ngưng tim, ngưng thở do bệnh lý hoặc tai nạn. Thông thường, người bị nạn có 4 phút "thời gian vàng". Nếu tiến hành CPR trong thời gian vàng, cơ hội "hồi sinh" khá cao.


Ấn tim: Đặt hai bàn tay chồng lên nhau, tác động lực vào vị trí xương ức ở giữa ngực, cánh tay tính từ vai đến bàn tay vuông góc với mặt đất. Ấn sâu khoảng 5-6cm, tốc độ 100-120 lần/phút. Lưu ý nạn nhân phải nằm trên mặt phẳng cứng. Với trẻ em, có thể chỉ cần dùng lực một tay, với điều kiện độ sâu cũng phải đạt được khoảng 5cm. Trẻ dưới 1 tuổi thì chỉ cần ép sâu khoảng 4cm.

Thổi ngạt: Loại bỏ các vật cản có thể nhìn thấy trong họng (ví dụ rong, rêu vướng trong họng người đuối nước), để nạn nhân nằm nghiêng nhẹ đầu và nâng cằm lên, bóp chặt mũi, hít một hơi sâu, áp miệng trùm kín miệng nạn nhân. Với trẻ dưới 1 tuổi, có thể đặt miệng trùm kín cả miệng và mũi trẻ. Thổi đủ mạnh để ngực nạn nhân phồng lên trong khoảng 1 giây.

Liên tục ép tim 30 cái, thổi ngạt 2 cái cho đến khi nạn nhân tỉnh hoặc đến khi đội cấp cứu tới.


Nếu nạn nhân là người lạ, bạn lo ngại việc áp miệng thổi ngạt sẽ dẫn đến lây truyền bệnh, có thể áp dụng "Hands-only CPR", tức chỉ dùng tay ấn tim. Lượng oxy còn trong máu nạn nhân vẫn đủ để cung cấp cho cơ thể một thời gian, miễn là họ được ấn tim để máu lưu thông.





lườm thịt gắp rau

Phanblogs lườm thịt gắp rau. đắng à mà thôi
lườm rau gắp thịt







Người Mohican Cuối Cùng James FCooper

Phanblogs chiến tranh, sự phản bội, lừa lọc, những cảnh tàn sát, lòng dũng cảm, tình yêu và cái chết, cuộc sống và tính cách của người da đỏ được kết hợp nhuần nhuyễn trong tác phẩm này - một tác phẩm sâu sắc, chân thực về cuộc chiến giữa những người da đỏ chống lại sự xâm thực của nền văn minh da trắng.




Người cuối cùng của bộ tộc Mohican, xuất bản năm 1826, trên khung nền của một cuộc chiến tranh giành đất đai giữa hai đế quốc thực dân Anh và Pháp mà nhân vật chính của chúng ta ủng hộ quân Anh chống lại quân Pháp, Cooper đã tạo dựng một câu chuyện đầy hấp dẫn với những cuộc phiêu lưu mạo hiểm, truy lùng gao gắt, những trận đấu một mất một còn… Cuốn truyện còn phác họa khung cảnh thiên nhiên hùng tráng của miền đất mới với những chủ nhân thực sự của nó là những người da đỏ tính cách dữ dội nhưng chất phác, trung thực và trọng nhân phẩm, hoàn toàn cách biệt với sự sa đọa của xã hội văn minh. Những trang viết về tính cách, phong tục, tôn giáo cua người da đỏ, sự thích nghi với tự nhiên của họ trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hoang dại tạo nên nét độc đáo cho tác phẩm của Cooper mà không một nhà văn đương thời nào có được.

Đây là cuốn sách được độc giả yêu thích nhất trong loạt tác phẩm của James Fenimore Cooper, góp phần tôn vinh tác giả là một trong những nhà văn Mỹ nổi tiếng đầu tiên trên văn đàn quốc tế.



Người Mohican Cuối Cùng James FCooper.doc


Người Mohican Cuối Cùng James FCooper.pdf



Người quân tử

Đi để mà đi.
Người quân tử gặp thời thì lên xe xuống ngựa,
chưa gặp thời thì đội nón lá chân đất mà đi.
Đi để mà đi.







Lời Nguyền Lỗ Ban tác giả Viên Thái Cực trọn bộ

Phanblogs Lời Nguyền Lỗ Ban tác giả Viên Thái Cực trọn bộ Tác giả Viên Thái Cực, từ nhỏ đã có niềm hiếu kỳ đặc biệt đối với nguyên lý hoạt động của máy móc động cơ, hiện tại đang là một chuyên gia kỹ thuật có đẳng cấp, thường xuyên tiếp xúc, nghiên cứu và làm việc với những thiết bị tinh vi phức tạp. Những điều đó đã nuôi dưỡng và tiếp sức cho một sở thích rất khác người của ông, đó là tìm hiểu và nghiên cứu về lĩnh vực trận pháp ám khí, cạm bẫy kỳ môn, mà giờ đây, hầu như chỉ còn tồn tại trong sách vở và truyền thuyết.

Lời Nguyền Lỗ Ban tác giả Viên Thái Cực

Tác giả Viên Thái Cực viết tiểu thuyết “Lời nguyền Lỗ Ban”, ban đầu chỉ là nhằm thỏa mãn niềm say mê bất tận của bản thân. Sau khi nhận được sự chào đón nhiệt liệt của độc giả, tác phẩm đã được nhà xuất bản Văn Nghệ Giang Tô in ấn phát hành. Sau khi tập 1 ra mắt độc giả vào năm 2011, cuốn tiểu thuyết đã nhanh chóng tạo nên một cơn sốt trên thị trường, được độc giả liệt vào một trong ba cuốn tiểu thuyết thần kỳ nhất năm 2011. Nhưng không giống với những cuốn tiểu thuyết khác, “Lời nguyền Lỗ Ban” đã tự tìm cho mình một lối đi riêng, chuyên khai thác một đề tài bí hiểm và khó khăn mà trước nay vẫn còn bỏ ngỏ: cơ quan cạm bẫy, ám khí kỳ môn. Kết hợp với một lượng kiến thức vô cùng phong phú mà tác giả đã tích luỹ được qua những tháng ngày say mê với dã sử chí quái, cổ tịch tàn văn, tác phẩm như bày ra trước mắt chúng ta một kho báu vô tận với những bảo vật lấp lánh sắc màu kỳ bí của thời gian, chỉ một chút lơ là sẽ lập tức trầm mình vào quên lãng. Chính vì vậy, cuốn tiểu thuyết đã được liệt vào nhóm “Tiểu thuyết tri thức” cùng với những tác phẩm đình đám trước đó như “Mật mã Tây Tạng”, “Mật mã Sơn hải kinh”, “Đông y bất tử”…

Đọc “Lời nguyền Lỗ Ban”, độc giả lập tức bị cảm nhiễm cái nghẹt thở đến đứng tim của một người đang dò dẫm trong những đoạn đường bí hiểm, vừa không thể không trầm trồ thán phục trí tuệ tuyệt luân của người xưa, vừa nơm nớp không biết thứ gì sẽ thình lình hiện ra sau bước chân kế tiếp. Những tiểu tiết tưởng chừng vô thưởng vô phạt đều có thể là một cái nút trí mạng đẩy chúng ta đến những bước ngoặt vô cùng căng thẳng; những hé lộ tưởng chừng như hữu ý rất có thể chỉ là một chiêu đánh lừa cảm giác… Có những nút thắt vừa động là phát, cũng có những nút thắt âm thầm tồn tại, đợi khi người ta vô thức lãng đi, mới thình lình bật mở. Toàn bộ tiểu thuyết, văn phong hàm súc, cấu tứ kỳ lạ, tình tiết chặt chẽ, nút thắt trùng trùng, khó phân thật giả, khiến người đọc có cảm giác đang lạc bước vào một mê cung cổ xưa tinh vi và phức tạp, vừa không thể không đi tiếp, vừa không thể đoán ra đâu mới là lối đi thực sự…

Và bây giờ, quý vị độc giả hãy theo chân những nhân vật kỳ bí cùng khám phá về một thế giới thâm u bí hiểm bằng trí tuệ, bằng cảm quan, và bằng cả hào tình tráng chí. Kho báu ngay trước tầm tay, thận trọng đừng nên chạm bẫy…
Lời Nguyền Lỗ Ban tác giả Viên Thái Cực








Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam tác giả Sơn Nam

PhanblogsLịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam tác giả Sơn Nam Nhận xét tổng quát
Đồng bằng sông Cửu Long, Ménam và Irraouaddi là ba trung tâm sản xuất lúa gạo, có dư
để xuất cảng, quan trọng nhứt trên thế giới. Việt Nam, Xiêm, Miến Điện gồm đa số dân sống
bằng nghề nông. Ba quốc gia này liên ranh, nằm trong khu vực gió mùa với những nét lớn giống
nhau:


— Lãnh thổ phát triển lần hồi từ Bắc xuống Nam.
— Biết làm ruộng cấy ở đồng sâu, nhờ đó mà sản lượng đạt mức cao so với ruộng tỉa ở đất
khô.
— Mức sống thấp kém.
Nam tiến không phải là mãnh lực huyền bí của riêng dân tộc Việt Nam. Những dân tộc
chịu ảnh hưởng ấn độ vẫn đạt được kỹ thuật cày sâu cuốc bẫm không kém nước ta. Việc tôn thờ
rắn thần và rồng để cầu mưa, vài môn giải trí như thả diều, trai gái đối đáp nhau nào phải chỉ xảy
ra ở Việt Nam.
Dân Việt gặp dân Miên vốn có nền văn hóa cổ kính khá cao. Vào thế kỷ 13, người Miên đã
tìm ra giống lúa và dẫn thủy nhập điền thích ứng giúp họ thâu hoạch 3 hoặc 4 vụ trong một năm.
Cuộc Nam tiến của người Xiêm, người Miến Điện gặp hoàn cảnh khá tốt về địa lý, hai con sông
Ménam và Irraouaddi thuận lợi cho việc thông thương, trong khi Hồng Hà và sông Cửu Long có
nhiều thác đá. Từ hạ lưu sông Hồng, dân Việt len lỏi theo mấy cánh đồng nhỏ bé dọc theo bờ
biển Đông nhiều giông tố để lần hồi đến hạ lưu sông Đồng Nai, sông Cửu Long.
Tuy là đặt chân trên đất Cao Miên nhưng đối thủ đáng nể của người Việt đi khẩn hoang lại
là người Xiêm đang nuôi tham vọng đô hộ vùng Vạn Tượng, Cao Miên và Mã Lai. Xiêm quốc
lúc bấy giờ đang thời hưng thịnh, với tướng giỏi, quân sĩ có kinh nghiệm về chiến đấu đường bộ
và đường thủy.
Người Việt đã giữ được thế chủ động trong hoàn cảnh gay go.
Khi đặt chân ở đồng bằng sông Cửu Long, nước Việt bị chia cắt từ sông Gianh, công trình
khẩn đất và giữ đất lúc đầu chỉ do một số dân từ Quảng Bình trở vào gánh vác. Bấy giờ, ưu thế
của người Việt khong là kỹ thuật canh tác cao, nhưng là ưu thế về tổ chức chính trị và quân sự.
Bộ mấy hành chính khá hoàn hảo đã giúp chúa Nguyễn theo dõi được tình hình ở những địa
phương xa xôi, quân đội có thể tập trung khá nhanh khi cần thiết. Đơn vị xã hội nhỏ nhất là thôn
ấp đủ khả năng tự trị, các tổ chức đồn điền có thể tự quản trị về kinh tế và an ninh.
Quân đội Xiêm hùng mạnh, nhưng đi xa thì mất hiệu năng. Nước Cao Miên bấy giờ quá
suy nhược, vua chúa kém năng lực chỉ biết cầu viện với ngoại bang, dân chúng thì ly tán: người
Xiêm thường lùa bắt từng loạt dân Cao Miên đem về xứ họ để làm nông nô phục dịch.
Vua chúa Việt Nam thúc đẩy việc khẩn hoang vì những lý do sau đây:
— Mở rộng địa bàn thống trị, đất rộng, dân giàu thì kinh đô được bảo vệ chu đáo hơn.
— Thuế điền và thuế đinh gia tăng nhanh chóng.
— Nạn đói kém được giảm thiểu, nơi này thất mùa, nơi kia bù lại, ít có nguy cơ nội loạn.
— Dân số gia tăng, thêm lính tráng, thêm dân xâu.
Bộ Đinh và bộ Điền tiêu biểu cụ thể cho nhân lực, tài lực. Với binh sĩ giữ gìn bờ cõi và
trấn áp nội loạn, với tiền bạc và nhân công làm xâu, vua chúa tha hồ phung phí, sống xa hoa, xây

đắp cung điện lăng tẩm, ưu đãi người trong giòng họ, mua chuộc quan lại, để ngôi vị được ổn
định, chống các âm mưu ly khai ở địa phương.
Về phía dân chúng, khẩn hoang là việc tích cực, không phải là hưởng thụ, thụ động, chờ
thời vận.
* Phải có yếu tố thiên nhiên tương đối thuận lợi, đất quá thấp thì lúa dễ bị ngập, quá cao thì
gặp nạn thiếu nước. Từ nơi cư trú đến thửa ruộng, đường đi phải gần để khỏi phí thì giờ lui tới,
lúa đem về nhà không mất nhiều công lao và phí tổn chuyên chở.
* Đủ nước ngọt để uống, nấu cơm và cho trâu bò uống.
* Gia đình đủ vốn liếng, đủ lúa gạo ăn trong khi chờ lúa chín. Lại còn quần áo, tu bổ nhà
cửa, thuốc uống, trầu cau, lúa gạo để nuôi heo gà, ghe xuồng, nông cụ. Thêm vào đó, còn yếu tố
xã hội vì làm ruộng đòi hỏi sự hợp quần cần thiết:
— Sức một người, một gia đình chỉ có giới hạn. Một khoảnh ruộng ở giữa tư bề đất hoang
thì hoa mầu sẽ bị chim chuột từ các vùng lân cận tập trung lại phá nát. Năm bảy gia đình góp sức
canh tác liên ranh nhau thì sự tổn thất vì chim chuột được giảm thiểu.
— Mùa cấy tuy là co giãn, xê xích mươi ngày nhưng nằm trong thời gian quy định. Cấy
quá sớm, thiếu nước, cấy quá trễ, cây lúa mọc không kịp nước mưa. Mỗi người chỉ có thể cấy
chừng 4 mẫu tây trong một mùa mà thôi, đàn bà lo cấy ở nơi này thì đàn ông lo dọn đất ở nơi
kia. Dọn đất cấy quá sớm, cỏ mọc trở lại, trì hoãn thì nước trong ruộng lên cao, không dọn đất
được. Lúa chín mà gặt trễ chừng năm bảy ngày là hư hao.
Phát cỏ, cấy lúa, gặt lúa đòi hỏi sự tập trung nhân công, mướn hoặc đổi công, theo lịch
trình không được bê trễ. Phải nhờ người lân cận hoặc ở địa phương khác đến. Ngay trong một
khoảnh đất nhỏ, mặt đất chưa bằng phẳng, nơi cao nơi thấp, việc đắp bờ, tát nước vẫn là công
trình của nhiều người.
Vùng định cư để khẩn hoang cần liên lạc với vùng phụ cận dễ dàng để giải quyết vấn đề
nhân công. Trong một ấp, nhà này không được ở quá xa nhà kia. Gần thôn ấp, phải có nơi bán
tạp hóa, có người cho vay, người tiêu thụ lúa. Việc sanh đẻ, cưới hỏi, may chay đòi hỏi các
phương tiện tối thiểu. Nhà cửa, tính mạng người dân phải được bảo vệ, chống trộm cướp, loạn
lạc. Lại còn nhu cầu học vấn, nhu cầu về tâm linh với đình, chùa, miễu, hát xướng.
Đơn vị tối thiểu về xã hội vẫn là một làng.
Khẩn hoang đòi hỏi nhiều yếu tố căn bản. Khẩn hoang ở đồng bằng sông Cửu Long là cuộc
vận động lớn, toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa.
Vua chúa quy định chính sách điền địa, thuế khóa, quân dịch và thưởng phạt. Tùy nhu cầu
mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn, lập ấp, cày cấy ở nơi mất an ninh. Đất kém
mầu mỡ, khó canh tác nhưng chính quyền lại cưỡng bách đến định cư. Có những giai đoạn,
những khu vực mà chính phủ kiểm soát chặt chẽ việc khẩn hoang, nhưng cũng có lúc người dân
được dễ dãi. Nhiều vùng đất tuy người Cao Miên chưa chánh thức nhượng cho ta nhưng dân ta
đã đến khẩn hoang, hoặc ngược lại, đã nhượng từ lâu nhưng vẫn còn hoang phế.
Cuộc vận động phối hợp quân sự, chính trị và kỹ thuật này có thể chia ra từng thời kỳ:
1) Từ các chúa Nguyễn đến những năm cuối đời Gia Long: Khai khẩn vùng đất phù sa tốt,
đất giồng ven sông, đất cù lao theo nhu cầu phát triển xứ Đàng Trong, phục quốc và củng cố
quốc gia.
Còn lại các vùng nước ngập sâu vào mùa mưa, đất quá phèn, rừng Sác. Vùng người Miên
tập trung, trên nguyên tắc thì để nguyên vẹn (Rạch Giá, Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc).
Thành lập các trấn Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Vĩnh Thanh.

2) Từ cuối đời Gia Long tới cuối đời Minh Mạng: Khai khẩn phía hữu ngạn Hậu Giang,
nối qua vùng đồi núi Thất Sơn, vì nhu cầu xác định biên giới Việt Miên. Khai khẩn vùng đồi núi,
vùng đất thấp, canh tác những lõm đất nhỏ mà cao ráo, giữa vùng nước ngập lụt.
Thành lập tỉnh An Giang, tách ra từ trấn Vĩnh Thanh.
3) Từ đời Thiệu Trị tới đời Tự Đức: Khai khẩn những điểm chiến lược, nhằm đề phòng nội
loạn ở phía Hậu Giang, chánh sách đồn điền được thúc đẩy mạnh.

Thực dân Pháp đến, nhằm mục đích bóc lột nhân công rẻ tiền, và xuất cảng tài nguyên, đã
thực hiện được vài việc đáng kể:
1) Cho đào kinh để chuyên chở lúa gạo, giúp giao thông vận tải được dễ dàng, đồng thời
rút bớt nước vào mùa lụt từ Hậu Giang ra Vịnh Xiêm La. Vùng đất phèn, tạm gọi là phù sa mới,
không còn bị nước ngập quá cao. Việc chuyên chở sản phảm về Sài Gòn ít tốn kém hơn trước.
Thành lập các tỉnh mới: Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vùng này trở thành nơi
dư lúa gạo, nhờ dân ít mà mức sản xuất cao. Khai khẩn rừng tràm và đồng cỏ.
2) Thúc đẩy việc làm ruộng sạ, nhờ chọn các giống lúa thích hợp hơn, giúp vùng đất thấp ở
Long Xuyên, Châu Đốc và Đồng Tháp Mười canh tác được. Còn lại là vùng rừng Sác Cần Giờ,
rừng Đước Cà Mau, vùng than bùn U Minh, vùng đất quá nhiều phèn chung quanh Hà Tiên và
Đồng Tháp Mười.

3) Lập đồn điền cao su ở miền Đông.
Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam  tác giả Sơn Nam .doc
Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam  tác giả Sơn Nam. pdf





Hương rừng Cà Mau tác giả Sơn Nam

Phanblogs Hương Rừng Cà Mau -Sơn Nam Lời Giới thiệu Những câu chuyện cũ về một vùng đất mới Ðồng bằng sông Cửu Long là một vùng lương thực chủ yếu của miền Nam.

Việc khai thác những tiềm năng phong phú của vùng đất mới này bắt buộc mọi người phải ra sức tìm hiểu nó một cách cặn kẽ.
Càng đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử, về địa lý, về xã hội và đặc biệt là về con người miền Nam, người ta càng thấy việc tìm hiểu này không chỉ là cần thiết, không thể thiếu được mà còn bổ ích và đầy hứng thú đối với các nhà khoa học, các nhà văn hoá và nghệ thuật.
Trong bước đầu tìm hiểu, không ít người đã tìm đọc lại Sơn Nam, đặc biệt là cuốn lịch sử khẩn hoang miền Nam và cuốn Ðồng bằng sông Cửu Long hay là Văn minh Miệt Vườn.
Những cuốn sách và những bài báo của Sơn Nam đã giúp người ta đi trở lại những ngày đầu khai phá tìm hiểu những điều kiện thiên nhiên và xã hội của cuộc sống trong vùng, có khi cách nay nhiều thế kỷ, về cách thức làm ăn và sinh sống của con người những thời kỳ ấy.
Sơn Nam kể“truyện đời xưa” nhưng không phải theo kiểu viết sử thông thường.
Nói là Lịch sử.
.
.

nhưng không viết theo niên biểu, anh viết đọc như thể anh có gì thì nói nấy, cần thì nói không cần thì thôi, không nhứt thiết phải đủ lễ bộ, chương hồi cho đầy đủ, cân đối.
Ðối với người mới tìm hiểu, chưa có thì giờ vào thư viện lục tài liệu xưa, đọc sách Sơn Nam, thấy rất bổ ích.
Thật vậy, sách anh viết, tài liệu vừa đủ để nêu được vấn đề, không nhiều quá làm người đọc phải mệt mà không cần thiết, mà cũng không ít quá để không nắm được gì, viết vui gọn, ngưòi đọc như được thưởng thức một bữa cơm bình dân, trông đạm bạc mà ngon miệng.
Trong đống tài liệu cũ nằm bắt bụi trong những kho lưu trữ, anh tìm ra, chép lại không phải tất cả, mà gạn lọc lấy những cái cần thiết, những cái thiên hạ chưa biết hoặc ít biết, thành ra những cái vốn đã cũ mà vẫn thấy mới là vậy.
Nhưng Sơn Nam không chỉ có những trang khảo luận mà còn có nhiều truyện ngắn, mà một tuyển tập được nhiều người biết đến, có cái tên khá tiêu biểu: Hương Rừng Cà Mau.
Cà Mau vùng đất cuối cùng của Tổ Quốc, được kể lại vào cái thời kỳ mà phần lớn diện tích của nó còn là rừng với đủ thú dữ và hiểm nguy nhưng lại đầy hương sắc vì con người miền Nam đã tới đó sinh cơ lập nghiệp.
Về người nông dân miền Nam, đặc biệt là miền Tây, từ Hà Tiên tới mũi Càm Mau, tức là miền đất được khai phá sau cùng.
Vì đi tới đây sau cùng, những người khai phá này đã tới những vùng khỉ ho cò gáy nhứt, trước họ không ai thèm làm.
Rừng sâu, nước độc, rắn rết hùm beo.
Nhưng không thể lùi được vì không còn đất sống nữa người ta mới phải lang bạt tới đây.
Muốn tồn tại, muốn sống sót được trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như vậy, con người phải có một sức mạnh tinh thần đáng kể.
Không được sự giúp đỡ nào của chính quyền lúc bấy giờ mà còn bị áp bức bóc lột nặng nề, những người phải rời bỏ quê quán tới xứ này phải sớm biết đùm bọc lấy nhau.
Sức mạnh tinh thần đó không bắt nguồn từ kinh sách của thánh hiền vì phần lớn những người đi khẩn hoang đều thất học.
Ðó là những giá trị tinh thần của dân tộc mà người ta mang từ nơi chôn nhau cắt rún tới đây và được phát triển lên trong hoàn cảnh đấu tranh mới, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống lại thiên nhiên còn thù địch với con ngưòi và 2 chống lại những thế lực áp bức bóc lột cũng thù địch với con người không kém.
Giá trị tinh thần nổi bật trong cuộc đấu tranh này là tình nghĩa giai cấp của những người nghèo, bắt buộc phải xa xứ mà tới đây, cùng nhau lập quê hương mới, nơi ca dao còn ghi lại: Cà Mau khỉ khọt trên bưng, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.
Hoặc: Tới đây xứ sở lạ lùng, Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê.
Trong cảnh ngộ đó, con người sống bằng gì? Bằng cái Nghĩa! Ngày xưa, ở xứ này, thường nói! Sống phải điệu nghệ! Theo Sơn Nam, điệu nghê là đạo nghĩa, nói trại ra.
Rừng của Sơn Nam có hương là vì vậy.
Tình nghĩa giữa con người ở đây không có xuất xứ trong cái cộng đồng làng xã, cái“tâm lý làng” như có người gọi, mà nó rộng hơn, nó sinh sôi nẩy nở từ trong vùng đất mới, khẩn hoang lập ấp, trong đấu tranh khắc phục ngoại cảnh thù địch, chống áp bức bóc lột, nên nó vẫn giữ được cái chân chất thật thà của người lao động gần thiên nhiên mà lại không tủn mủn hẹp hòi.
Ðây là một nét đặc biệt nữa mà ca dao còn ghi được: Dấn mình vô chốn chông gai, Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân.
Lao xao sóng bủa dưới lùm, Thò tay vớt bạn chết chìm cũng ưng.
Cái tình nghĩa bốn phương bè bạn này rất sâu đậm, nó thể hiện trong ca dao, trong các làn điệu dân ca và về sau, chúng được gặp lại nó trong Lục Vân Tiên, giữa Vân Tiên và các bạn, giữa Vân Tiên với Tiểu đồng.
.
.

Cái tình bạn này đi lièn với cái nghĩa“giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” , mà chúng ta cũng thấy rõ trong truyện Vân Tiên.
Từ trước tới nay, truyện ngắn của Sơn Nam được biết nhiều nhất là qua tập Hương Rừng Cà Mau.
Sự thật, Sơn Nam còn viết rất nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Sài Gòn trong một thời gian dài hàng chục năm chưa được sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu.
Ðối với các bạn trẻ hôm nay, truyện“xưa” của Sơn Nam làm sống lại cảnh đời của cha ông đi khai phá thời trước, sống lại cái không khí hoang sơ mà hào hứng của buổi ban đầu lập nghiệp, theo dõi cách sống mộc mạc mà“điệu nghệ” của ông cha.
Ðối với bạn đọc ở kháp các nơi, những trang khảo cứu và những truyện ngắn của Sơn Nam là những chìa khoá mở cửa vào tâm hồn của người Việt ở miền Nam.
Trên tinh thần đó, chúng tôi chọn để giới thiệu với bạn đọc thêm 26 truyện ngắn của Sơn Nam, trước đây đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn.
Những tên truyện được đưa vào tập này, tự nó đủ giới thiệu nội dung:Chuyện Rừng Tràm, Nhứt Phá Sơn Lâm, Con rắn ri voi, Cái ổ ong, Con sấu cuối cùng, Ðơn Hùng Tín chào đời.


Như đã nói trên, truyện của Sơn Nam, cũ mà mới.
Nói những chuyện cũ của một vùng đất mới, một vùng đất mà khó ai dám nói, kể cả những người sanh trưởng tại chỗ, là đã thật hiểu biết đầy đủ.
Mong rằng những truyện ngắn này sẽ góp thêm hiểu biết về miền đất thân yêu của chúng ta.


Hương rừng Cà Mau tác giả Sơn Nam .doc


Hương rừng Cà Mau tác giả Sơn Nam . pdf








Khi những con số biết lừa

Phanblogs Khi những con số biết lừa Đây là một câu trả lời cho câu hỏi Đâu là những kĩ năng toán học cơ bản nhất mà mọi người nên biết?. Khá là thú vị nên mình trích dẫn lại.


Hỏi: Đâu là những kĩ năng toán học cơ bản nhất mà mọi người cần phải biết?

Đáp: Trong giai đoạn cao trào của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, rất nhiều chiến đấu cơ của Mỹ quay trở về từ chiến trường mang theo hàng đống vết đạn bắn chi chít trên mình.

Vị trí các vết đạn phân bố tập trung vào các vùng khác nhau trên máy bay, chủ yếu là động cơ, thân, cánh, đuôi,...


Quân đội (Hoa Kỳ) nhận ra rằng họ có thể khảo sát vị trí các vết đạn bắn trên các máy bay trở về, từ đó họ có thể gia cố những vùng nào mà thường xuyên bị bắn trúng nhất, từ đó thì họ có thể giảm được tối đa số máy bay bị bắn hạ.

Họ tìm đến Abraham Wald và một vài nhà nghiên cứu thống kê đầu ngành thời đó, với dữ liệu họ đưa ra như sau:


Vùng trên máy bay Tỉ lệ lỗ đạn trên một feet vuông

Động cơ 1.11
Thân 1.73
Hệ thống dẫn nhiên liệu 1.55
Các phần khác 1.8
Dựa vào số liệu này, bạn nghĩ quân đội cần gia cố phần nào?

Đa số mọi người cho rằng nên gia cố thân máy bay (vì có tỉ lệ ăn đạn cao nhất), và tất cả đều sai.

Câu trả lời chính xác phải là động cơ.

Wald nhận ra một điều là, dữ liệu mà phía quân đội cung cấp cho ông không nói lên được vấn đề. Lý do mà tỉ lệ bắn trúng động cơ trên bảng số liệu trên thấp rất đơn giản. Đó là các máy bay ăn đạn vào động cơ thường không còn quay về được nữa (vcl).


Và thực tế là phần lớn các máy bay trở về có tỉ lệ ăn đạn vào thân cao hơn nói lên một điều là thân máy bay dù có ăn nhiều đạn thì vẫn có khả năng chịu đựng cao hơn là các bộ phận khác.

Wald cho rằng chỉ có 2 cách giải thích cho số liệu mà ông được cung cấp:


Mấy viên đạn thường được bắn trúng các phần khác nhiều hơn là bắn vào động cơ
Động cơ là tử huyệt của máy bay
Và không cần phải là thiên tài thì mới nhận ra ngay, cách thứ 2 mới là cách giải thích chính xác vấn đề này. Và quân đội đã nghe theo lời của Wald để gia cố phần động cơ, hiệu quả thấy ngay, rất nhiều máy bay Mỹ đã sống sót trở về sau đó.

Một trong những kĩ năng toán học bị coi nhẹ nhất đó chính là khả năng thấu hiểu được vấn đề ẩn giấu đằng sau những phỏng đoán do các con số đưa ra. Abraham Wald đã giải quyết được vấn đề máy bay bởi vì ông ấy nhận ra quân đội Mỹ đã mắc sai lầm khi phỏng đoán rằng dữ liệu trên đại diện cho toàn bộ tất cả các chiến đấu cơ, thay vì chính xác phải là các chiến đấu cơ quay trở về được.

Ngày nay, có rất nhiều những con số được trưng ra trên truyền thông, chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đánh lừa người đọc để họ phải tin vào những gì họ muốn nghe, nhưng mà bạn cần phải tỉnh táo để nhận ra cái nào là bullshit và cái nào là đúng, nhận ra cái nào là những sự phỏng đoán, bị đánh lừa bởi những con số.



Nếu bạn muốn xem thêm nhiều ví dụ kiểu này nữa, tôi rất khuyến khích đọc quyển sách How Not to Be Wrong: The Power of Mathematical Thinking của Jordan Ellenberg, trong cuốn này giải thích rất hay ví dụ về Wald và rất nhiều ví dụ khác về chuyện bị dữ liệu đánh lừa dẫn đến những kết luận ngớ ngẩn nữa.

Nguồn : https://thefullsnack.com/posts/the-numbers-do-lie.html?t=1505623614423



Chiến tranh hạt nhân sẽ hủy diệt cả Trái Đất

Phanblogs Khi tất cả đều phát nổ cùng một lúc Dù tất cả đầu đạn hạt nhân trên thế giới không hiện đại như nhau nên chúng ta hãy giả sử mọi quả bom đều có sức công phá như B83. Khi đó, ta sẽ có khoảng 13.800 quả B83. Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng nổ cùng một lúc?


Đầu tiên, vụ nổ sẽ hủy diệt 94km vuông đất liền ngay lập tức. 232.000km vuông cơ sở hạ tầng sẽ bị thổi bay bởi luồng áp suất tạo ra. Điều này có nghĩa là 295 đô thị có kích cỡ như thành phố New York sẽ biến thành tro bụi.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bom hạt nhân trên thế giới khai hỏa cùng một lúc? 

Vài trăm thành phố khổng lồ sẽ bị thiêu rụi

Tiếp theo, một quả cầu lửa có kích thước 79.000km vuông sẽ thiêu rụi tất cả mọi thứ mà nó chạm vào, và giết chết bất cứ ai đứng trong vòng bán kính 5,8 triệu km quanh nó, nghĩa là tất cả mọi người trong một vùng đất rộng bằng 3.700 thành phố London sẽ thiệt mạng.

Cuối cùng, đám mây phóng xạ và ion sẽ làm nhiễm độc một vùng rộng 284.000km vuông và khiến cho bất cứ ai còn sống bị nhiễm phóng xạ.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bom hạt nhân trên thế giới khai hỏa cùng một lúc? 

Tóm lại, hàng trăm triệu người (thậm chí hàng tỷ người) sẽ chết trong 1 giờ đầu tiên. Tuy nhiên, nó còn để lại tác hại lâu dài nữa.

Thứ còn lại là một mùa đông dài đằng đẵng

Khi vụ nổ hạt nhân xảy ra, những đám bụi phóng xạ sẽ bay lên tầng cao của khí quyển và làm hạ nhiệt độ của hành tinh.

Một mùa đông hạt nhân về lý thuyết khá giống với những kỷ băng hà đã từng diễn ra trong quá khứ, ngoại trừ một việc là chỉ cần hít một hơi khí trời là bạn có thể bệnh và chết ngay. Vậy, cần bao nhiêu quả cầu lửa hạt nhân để gây ra một mùa đông dài đằng đẵng?

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bom hạt nhân trên thế giới khai hỏa cùng một lúc?

Cái giá lạnh sẽ tiêu diệt mọi thứ

Một nghiên cứu cho rằng 100 quả bom từng rơi xuống Hiroshima là có thể giải phóng đủ lượng mảnh vỡ carbon để tạo nên một mùa đông hạt nhân cỡ nhỏ.

Nhiệt độ toàn cầu sẽ giảm đi ít nhất là 1 độ C. Do đó nếu toàn bộ đầu đạn hạt nhân cùng phát nổ, một màn đêm vĩnh cửu sẽ bao phủ lấy Trái đất trong nhiều thế kỉ và tiêu diệt sự sống trên đó.

Chỉ những loài thực vật thích nghi được với môi trường khắc nghiệt nhất mới có thể tồn tại và vươn lên đứng đầu trong chuỗi thức ăn.

Một cuộc đại tuyệt chủng lớn nhất sẽ diễn ra, có thể con người sẽ hoàn toàn biến mất. Những loài còn lại phải sống trong một thế giới nhiễm phóng xạ rất nặng.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bom hạt nhân trên thế giới khai hỏa cùng một lúc?

Sự sống trên Trái đất sẽ biến mất


Tất nhiên, mọi thứ ở trên chỉ là giả thiết của các nhà khoa học. Thực tế có thể còn ghê gớm hơn nhiều, do đó chúng ta hãy mong rằng nó không bao giờ xảy ra.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bom hạt nhân trên thế giới khai hỏa cùng một lúc?

Biệt động Sài Gòn Những chuyện bây giờ mới kể Hồ Sĩ Thành

Phanblogs Biệt động Sài Gòn xuất hiện trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, như một sự tất yếu của lịch sử: Cần phải có một đặc chủng tinh nhuệ, với lối đánh độc đáo xuất thần mới tiến công được những mục tiêu trung ương đầu não của địch nằm sâu trong hang ổ cuối cùng của chúng, nhằm tiêu diệt sinh lực cao cấp, phá hủy phương tiện tối tân của địch và đặc biệt là gây tiếng vang chính trị, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân thành phố cũng như cả nước.

Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật Biệt động phát triển đến đỉnh cao, đã giáng những đòn sấm sét xuống đầu thù, lập nên những chiến công vang dội làm chấn động trong nước và thế giới, nhất là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh... dẫn tới thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ (30-4-1975.)

Thượng tá Hồ Sĩ Thành (nhà thơ Linh Giang Hội viên Hội nhà văn Việt Nam) từng chiến đấu nhiều năm trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, đã chủ biên, cùng một số tác giả biên soạn cuốn "Lịch sử Biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định 1945 - 1975" đã được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2003.

Sau công trình nghiên cứu lịch sử này, trên cơ sở nguồn sử liệu phong phú, vốn sống thực tế và cảm xúc của mình, tác giả đã dày công tái hiện hình ảnh những chiến sĩ biệt động với những trận đánh tiêu biểu của lực lượng biệt động từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, trong cuốn sách mang tên "Biệt động Sài Gòn - những chuyện bây giờ mới kể”.

Đây là tập sách viết theo thể loại truyện ký (người thật việc thật) khá sinh động, có sức cuốn hút người đọc.

Biệt động Sài Gòn Những chuyện bây giờ mới kể Hồ Sĩ Thành .doc
Biệt động Sài Gòn Những chuyện bây giờ mới kể Hồ Sĩ Thành pdf





Giang hồ Sài Gòn Vũ Quang Hùng

Phanblogs Tôi còn nhớ đoạn được đoạn mất của một bài thơ sặc mùi “hiện sinh” mà Đại Cathay và Lâm Chín ngón rất mê, học được khi “đoong thóc” (tức nằm hút thuốc phiện) tại tiệm Khang Sinh (nằm gần khu Đại Thế Giới - vốn là nơi nhiều văn nghệ sĩ và dân giang hồ thời trước thường lui tới), từng đọc cho tôi nghe:


Hắn mái tóc nâu vương niềm đau thế kỷ

Quần blue jeans chung thuỷ bạc thời gian

Bastos xanh gắn chặt ngón tay vàng...

Theo thời gian hắn vươn mình cuồng loạn

Lớp trẻ đôi mươi hôm nay cởi mở lòng

Và trọn vẹn cho hắn sống

Dù mất hồn như François Sagan, David Victor,

Tương lai đâu?...

Hai giờ đêm có kẻ mất hồn

Hè đại lộ, bar, show, dồn dập on night

Lê gót giầy nghiến từng lưng phố sá

Crazy love, kêu em về mộng mị đắm say...

Giang Hồ Sài Gòn là tập sách viết về những nhân vật và những băng nhóm du đãng của Sài Gòn một thời trước năm 1975.


Tác giả Vũ Quang Hùng, nguyên là một sinh viên tranh đấu trong phong trào sinh viên học sinh trước giải phóng, bị chế độ cũ bắt bỏ tù hai lần, giam tại khám Chí Hòa và nhà tù Côn Đảo. Trong thời gian bị tù đầy dưới chế độ Thiệu, tác giả đã có nhiều dịp bị nhốt chung với các tay anh chị cộm cán trong làng du đãng Sài Gòn. Sau giải phóng, tác giả từng là Phó Tổng biên tập báo Công An TP.HCM. Chính điều đó đã cho phép tác giả có nhiều tư liệu xác thực để viết nên câu chuyện về giới giang hồ Sài Gòn và những dư đảng.

Giang Hồ Sài Gòn không chỉ là chuyện du đãng mà còn là chuyện đối nhân xử thế giữa người với người, chuyện nổi loạn của những người không đất dung thân, là chuyện nghĩa tình đồng đội và bao nhiêu chuyện khác.

Mời các bạn đón đọc Giang Hồ Sài Gòn của tác giả Vũ Quang Hùng.






Đại Cathay 
Lâm 9 Ngón
Năm Cam

Giang hồ Sài Gòn Vũ Quang Hùng . pdf

Giang hồ Sài Gòn Vũ Quang Hùng . doc

Nghe đọc truyện Giang Hồ Sài Gòn tác giả Vũ Quang Hùng.mp3