Tìm kiếm hiệu quả

Tâm tĩnh lặng


PhanblogsTrong suốt cuộc đời, chúng ta hiếm khi có được những giây phút cô liêu, tịch mịch. Ngay cả những khi sống một mình, cuộc đời chúng ta cũng tràn ngập với quá nhiều nguồn tác động, quá nhiều kiến thức, quá nhiều kỷ niệm của những kinh nghiệm chúng ta đã trải qua, quá nhiều lo âu, đau khổ và mâu thuẫn khiến cho tâm trí chúng ta ngày càng trì trệ, ngày càng chai lì, hoạt động một cách tẻ nhạt, chán chường.

Có bao giờ chúng ta được sống đơn độc thanh thoát chăng? Hay chúng ta luôn luôn mang theo bên mình cả cái đống bùi nhùi của quá khứ?



Có câu chuyện về hai vị sư , một hôm, trong lúc đi trên con đường từ làng này qua làng khác, hai người gặp một cô gái ngồi bên bờ sông sụt sùi khóc. Một vị bèn bước tới bên cô, hỏi:
- Tại sao cô khóc?

Cô gái đáp:
- Thầy có thấy căn nhà bên kia sông không? Sáng nay con từ nhà lội sang bên này, không có trở ngại gì, nhưng bây giờ nước sông dâng lên, con không lội về được mà lại không có ghe thuyền gì cả.

Vị sư nói:
- Ồ, cô khỏi lo, không thành vấn đề!

Vừa nói, ông vừa bế xốc cô ta lên, lội phăng phăng qua sông, bỏ cô xuống bờ bên kia, rồi cùng người bạn đồng tu tiếp tục lặng lẽ bước.

Vài giờ sau, nhà sư kia lên tiếng:
- Sư huynh, chúng ta đã nguyện không đụng vào phụ nữ. Việc sư huynh mới làm là một trọng tội. Bộ chuyện sờ vào đàn bà làm cho sư huynh vui thú, khoái lạc lắm hay sao?

Thì vị sư đã giúp cô gái qua sông trả lời:
- Tôi bỏ cô ta lại phía sau đã hai giờ đồng hồ rồi. Còn sư đệ, chú vẫn mang cô ta theo đấy à?

Chúng ta đều thế cả. Suốt đời, chúng ta mang theo đủ loại linh tinh, không bỏ chúng lại phía sau. Chỉ khi nào chúng ta chú tâm vào một vấn đề, giải quyết ngay lập tức, trọn vẹn, không để dây dưa đến ngày sắp tới, đến phút giây sắp tới, khi đó chúng ta sẽ có thời gian thanh tịnh, cô tịch. Trong trường hợp đó thì dù chúng ta đang ở trong căn nhà đông người hoặc trên xe buýt, chúng ta vẫn đang sống trong sự tịch mịch, trống vắng. Tâm trí trong trạng thái trống vắng đó là tâm trong sáng, hồn nhiên.

Một nội tâm trong sáng, trống vắng, là điều vô cùng quan trọng để có thể tự do thoải mái trong mọi hành động, tự do đi lại, bay nhẩy. Tóm lại, lòng tốt chỉ nẩy nở từ một nội tâm khoáng đạt, không bị gò bó, cũng như trí tuệ chỉ phát triển khi có tự do. Chúng ta có thể có tự do về vấn đề chính trị, nhưng nội tâm chúng ta không khai phóng cho nên chúng ta không có khoảng trống cho tâm hồn. Thiếu khoảng trống mênh mông, thiếu sự phóng khoáng này trong nội tâm thì không có trí tuệ, không có phẩm chất giá trị nào có thể hoạt động và phát triển. Khoảng trống mênh mông và sự tĩnh lặng của tâm hồn thật là cần thiết vì chỉ khi nào tâm trí ở trong trạng thái cô liêu, tịch mịch, không bị ảnh hưởng, không bị gò ép, không bị tràn ngập với đầy dẫy những kinh nghiệm linh tinh, thì tâm hồn mới sẵn sàng tiếp thu được những điều hoàn toàn mới mẻ.

Người ta chỉ có thể nhận chân sự thật "như là chính nó" khi tâm trí tĩnh lặng và trong sáng. Mục đích của thiền định ở Đông phương là để đưa tâm trí đến tình trạng kiểm soát được tư tưởng, cũng như liên tục nhắc lại một lời cầu nguyện để cho tâm được an tịnh với hy vọng trong tình trạng đó, người ta có thể thấu suốt, giải quyết được những nỗi đau khổ của kiếp người.

Nhưng trừ phi người ta đặt được nền móng, đó là giải thoát khỏi sự sợ hãi, khỏi sự đau buồn, lo lắng và tất cả những vướng mắc mà họ tự quàng vào, tôi không thấy cách nào có thể làm cho tâm trí thật sự tĩnh lặng.Có lẽ các bạn đã từng nghe nói đến mười bức tranh Thập Mục Ngưu Đồ diễn bày tiến trình luyện tâm thế nào. Chúng ta có bài viết Thập Mục Ngưu Đồ từ wikipida dưới đây.

Mười bức tranh này là tinh hoa của Thiền tông, nói về luyện tâm và dụng tâm. Và trong tiến trình tu luyện tư duy tích cực, chúng ta cũng theo một nguyên tắc căn bản.

Thập mục ngưu đồ (zh. 十牧牛圖, ja. jūgyū-no-zu) là mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Đại thừa.

Tựu trung là luyện tâm có 2 thời kỳ chính:

1. Tìm thanh lặng để luyện tập tâm cho tĩnh lặng

Tiến trình này đòi hỏi ta phải có tĩnh lặng bên ngoài để tu tập tĩnh lặng bên trong, như người mang trâu lên núi tìm nơi vắng vẻ dạy trâu. Tức là ta cần nhiều thời gian tu tập thanh vắng một mình—đọc sách, đọc kinh, thiền, nghe nhạc nhẹ, cầu nguyện…

Tránh đám đông và các chuyện rộn ràng. Tức là đừng chạy theo thị hiếu đám đông. Cũng đừng nhúng vào các chuyện rộn ràng, ồn ào, phức tạp. Tránh các vấn đề nhiều mâu thuẫn, bực dọc, cãi cọ. Khi công lực ta còn yếu, đám đông và các vấn đề phức tạp thường làm tâm ta chao đảo và dễ sinh ra sân hận, hiềm khích, đố kỵ, hận thù, kiêu căng… Nói chung là tiêu cực. Chỉ nên nhúng tay vào các chuyện nhiều hòa ái, dịu dàng.

Đây là thời gian giống như “tu chùa.” Ta cần vắng vẻ, tĩnh lặng, suy niệm để tập tâm cho thuần.

Tâm ta sẽ thuần từ từ: Đến lúc ta có thể điều khiển và an lòng về tâm ta, như là trâu đã được huấn luyện thuần thục. Thuần thục từ mức ta có thể để trâu tự do một mình, hay cưỡi trâu mà đi, cho đến lúc tâm ta (trâu) và ta trở thành một, chẳng còn riêng rẽ, chẳng còn gì để kiểm soát và điều khiển. Đó là mức rất thuần thục.

2. Trở về với chợ búa

Lúc ta đã có sức mạnh nội tâm vững mạnh, thuần thục, đó là lúc ta có thể sống chung, sống mạnh, với cuộc đời chung quanh, với chợ búa xô bồ ồn ào, mà tâm vẫn tĩnh lặng.

Lúc đó là lúc ta thực sự “sống vào đời”. Sống gần phường trộm cắp mà tâm vẫn tĩnh lặng. Sống với những vấn đề khổ đau bức xức của xã hội mà tâm vẫn không bị đảo chao.

Lúc đó là lúc ta có thể cảm hóa người trộm cắp vô minh, và nhúng tay vào các bất công tha hóa của xã hội quanh ta, để giúp người nghèo khổ, cô thế, lạc loài, chống bất công, xây dựng tình yêu và công lý.

Những vấn đề xã hội lớn quanh ta, như là những đống rác khổng lồ. Nếu ta lao vào khi tâm ta chưa đủ nội lực, ta thường trở thành phẫn nộ điên khùng như đám đông, và thường là chính ta đi lạc đường trong tiến trình “giải quyết” các đống rác đó.

Nhưng khi tâm ta đã đủ nội lực, ta có nhiệm vụ đối diện những đống rác tiêu cực quanh ta và tìm cách giải quyết, vì tư duy tích cực có nghĩa là giảm bớt và xóa bỏ tiêu cực. Và ta sẽ có đủ tĩnh lặng và thông thái, để điềm tĩnh nhìn đống rác, phân tích vấn đề, tìm ra giải pháp, xắn tay áo vào việc, và kêu gọi chỉ bảo mọi người khác vào cùng.

Thiền sư khi chưa đủ nội lực thường vào chùa tránh đời để tu tập. Khi đã đủ nội lực lại lang thang đường phố để mang lại anh sáng cho đời. Đó cũng chính là kiểu mẫu cho con đường tư duy tích cực của mỗi chúng ta.

Tìm Trâu
Thấy Dấu
Thấy Trâu

Được Trâu

Chăn Trâu

Cưỡi trâu về nhà

Quên trâu còn người

Người, Trâu đều quên

Trở về cội nguồn

Thõng tay vào chợ

Thập Mục Ngưu Đồ

Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh – có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau – nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (zh. kuòān shīyuǎn 廓庵師遠, ja. kakuan shion, ~1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文, ja. shūbun, ?-1460).

Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư (zh. qīngjū 清居, ja. seikyo) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Đắc (zh. zìdé 自得, ja. jitoku, tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.

Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki, bản dịch của Trúc Thiên và Thích Tuệ Sỹ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.



Không có nhận xét nào: