Tìm kiếm Blog này

Khất thực là gì ?

Phanblogs
Hỏi: Xin vui lòng giảng giải cho tôi biết về pháp khất thực của nhà Phật như thế nào?
Đáp: Thưa quý thính giả,
Việc đầu tiên của đức Phật sau khi giác ngộ là thành lập Tăng đoàn gồm những đệ tử xuất gia theo Ngài, những hiền nhân nay đây mai đó, những người từ bỏ tất cả để học Phật pháp và hoằng dương giáo lý giải thoát. Họ sống bằng cách đi khất thực từ nhà này đến nhà khác, và sở hữu của họ không có gì ngoài ba chiếc áo và một cái bình bát. Danh từ khất sĩ có từ đó. Khất Sĩ có nghĩa là khất thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người đời để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hành nuôi tâm. Từ ban đầu, họ không phải là những nhà tu khổ hạnh tự hành xác để sám hối và không xem lối sống đơn giản tự nó là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để giải thoát những phiền toái hàng ngày hầu có thể tập trung toàn lực vào công việc quan trọng duy nhất là đạt giác ngộ cho mình và giúp ích cho người.
Khất thực có nghĩa là xin ăn. Cách nuôi thân một cách chân chính do Phật dạy cho những đệ tử xuất gia. Đó là thực hành chính mạng thanh tịnh. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây là tu sĩ của một số tôn giáo khác ở xã hội Ấn Ðộ thời đức Phật còn tại thế, thường dùng những phương tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ những công việc ấy nhẹ nhàng, dễ làm, không khó nhọc như các nghề coi bói toán, xem tinh tú, bùa chú, xem ngày xấu, giờ tốt, xem phong thổ, địa lý, xây nhà, đào ao, v…v… Ðức Phật nhận thấy đây là điều không thể chấp nhận và không phải là việc làm của người tu sĩ Phật giáo, không phải là hành chánh mệnh thanh tịnh.
Đi khất thực còn gọi là đi bình bát hay trì bát. Chữ Bát có nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người. Bình bát là loại bình được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rỉ nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý, … Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của người xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Ở các nước theo Nam Tông Phật giáo, chư Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Bắc Tông Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai.
Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát

Chuyến đi khất thực bao giờ cũng diễn ra vào buổi sáng và chấm dứt trước giờ ngọ tức trước lúc mặt trời đứng bóng. Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát không. Các thí chủ chỉ cúng dường những thức ăn đã được nấu sẵn, không cúng dường các vật liệu chưa làm thành món ăn, như cúng cơm chứ không cúng gạo, cúng món rau xào chứ không cúng bó rau chưa nấu chín. Nếu chưa đủ dùng, chư vị tiếp tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh nhưng không được quá bảy nhà. Chư vị không được phép bỏ sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá ở các thị trấn phồn thịnh, các gia chủ giàu hay nghèo đều phải được tạo cơ hội đồng đều để gieo trồng phước duyên, cũng không muốn gây cảm tưởng là chư vị ham thích những khu phố giàu có vì thức ăn ngon hơn.
Khất thực xong, các vị trở về tịnh xá để ăn trước khi mặt trời đứng bóng. Đây là bữa ăn duy nhất trong ngày. Thông thường thức ăn được phân ra làm bốn phần: một phần nhường lại cho các bạn đồng tu nếu thấy họ không có hay có ít, một phần san sẻ cho người nghèo, một phần dành cho loại chúng sinh không phải là người nhưng sống chung với người và cuối cùng còn lại là phần mình dùng. Khi thọ dụng thức ăn các vị Tỷ kheo xem như là việc uống thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Sau bữa ăn, các vị rửa bát, xếp gọn các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến một gốc cây hay căn nhà trống, hay tịnh thất ngồi thiền định như hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Hằng năm, chư Tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa. Tất cả trở về sống chung trong các tịnh xá lớn. Trong thời gian này, chư Tăng không đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến tịnh xá “để bát” và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến ngày lễ Bố-tát vào ngày trăng tròn và ngày đầu trăng, chúng Tỳ kheo cùng sống trong một vùng phải tập họp lại một chỗ gọi là giới trường để tụng đọc Giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa. Chư Ni thì có đại diện đến xin lãnh giới ở chư Tăng và trở về tịnh xá riêng của Ni để tụng đọc Giới bổn Ni. Ngoài ba tháng an cư, chư Tăng được tung ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác nhau, trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật, vừa thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp tục hành Thiền để đoạn trừ tham sân si.
Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm

Thưa quý thính giả,
Pháp Khất thực do Phật truyền cho các đệ tử xuất gia phù hợp với nguyên lý Trung đạo, tức là tránh xa hai cực đoan: Thứ nhất là tránh xa sự sung sướng thái quá qua việc ăn thực phẩm do người đời cúng dường để vào trong bình bát mà không dùng đũa ngọc, chén ngà, bàn cao, ghế đẹp với thức ăn mỹ vị, và thứ hai là tránh xa sự khổ hạnh thái quá qua chiếc bát đựng đồ ăn vừa đủ dùng, không giống như phái tu khổ hạnh lượm trái cây, lượm đồ ăn dư thừa mà ăn.
Theo Kinh Phật, sự xin ăn của tu sĩ đem lại lợi ích cho mình và cho chúng sinh:
Đối với vị Tỳ kheo khất thực thì có năm điều lợi ích:
(1) tâm trí được rảnh rang, ít phiền não,
(2) không bận rộn tâm và thân để kiếm kế sinh nhai,
(3) đoạn trừ tâm kiêu căng ngã mạn,
(4) đoạn trừ lòng tham, không thể tham ăn ngon và ăn nhiều vì ai cho gì ăn nấy, không thể chọn lựa, thức ăn chỉ đầy bát chớ không nhiều hơn nữa, tránh khỏi sự thâu trữ vật thực tiền của và
(5) có nhiều thì giờ tu hành.
Ngoài lợi ích cho riêng mình, vị Tỳ kheo khất thực còn mang lại ba điều lợi ích cho chúng sinh như:
(1) tạo cơ duyên cho người bố thí đoạn trừ lòng tham, tức là tạo phước duyên cho họ,
(2) tạo cơ duyên giáo hoá chúng sinh, và
(3) Nêu gương sống giản dị làm cho người đời bớt tham đắm của cải.
Theo Kinh Phật, trước khi lên đường khất thực vị khất sĩ nguyện rằng: “Nguyện cho các vị Khất gỉa thảy đều được no đủ và nguyện cho các thí chủ thảy đều được phước báu vô lượng. Như nay tôi được món ăn là dùng để điều trị cái thân độc hại này, để tu tập thiện pháp, lợi ích cho thí chủ.”
Trong khi đi khất thực, vị khất sĩ giữ tâm bình đẳng: theo thứ tự nhà của dân chúng mà xin ăn, không chỉ đến xin nơi nhà giầu, cũng không chỉ xin nơi nhà nghèo. Có lần đức Phật quở Tôn gỉa Ca Diếp bỏ nhà giầu mà xin nhà nghèo, quở Tôn gỉa Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo mà xin nhà giầu. Vì trước đó Tôn Giả Ca Diếp nghĩ rằng “người nghèo thật đáng thương, ít phước, nếu không gieo trồng phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, nên đến đó xin để nhờ đó họ bố thí cúng dường mà được phước về sau”. Trái lại, Tôn giả Tu-Bồ-đề lại cho rằng: “Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành thì đời sau lại nghèo khổ.” Mỗi vị đều trình bày lý do của mình, Đức Phật mới quở trách các vị ấy là bậc A-la-hán có tâm phân biệt, không bình đẳng. Khi đi vị Khất sĩ không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường cũng phải trở về với bát không và không ăn ngày hôm đó. Khi đi khất thực, vị khất sĩ cũng không được để ý xem mình được cái gì, và cũng không được thỏa mãn cũng như bất mãn. Nếu một người đàn bà cúng dường đồ ăn, vị Khất sĩ không được nói, nhìn hay quan sát người ấy đẹp hay xấu. Đồ ăn cúng dường cho Khất sĩ không phải luôn luôn nhiều hay ngon lành, hay tinh khiết. Các chuyến đi khất thực đôi lúc cũng có thể gây nên những xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí chủ là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân tâm phải được tăng cường là điều rất cần thiết trong lúc khất thực, như đức Phật đã nhấn mạnh: “chỉ khi nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực”.
Thưa quý thính giả,
chỉ khi nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực

Ngày nay, tại một số quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và một phần của miền Nam Việt Nam chư Tăng vẫn tiếp tục theo truyền thống khất thực này. Ở Trung Hoa, Triều Tiên và Tây Tạng truyền thống khất thực dường như đã hoàn toàn biến mất. Dưới Triều nhà Đường ở Trung Hoa, một tông phái đặc biệt, Luật Tông, được thành lập với mục đích làm sống lại truyền thống khất thực xưa, và đem ra thực hành những giới luật nghiêm ngặt của Luật Tạng. Dưới triều đại nhà Tống, các Thiền Sư thực hành khất thực và sự thực hành này còn tồn tại nơi những Thiền Sư Nhật Bản. Tuy nhiên ở Nhật Bản, khất thực không phải là nguồn sinh sống chính mà chỉ là một sự tập luyện kỷ luật cho những vị sơ tu hay là một cách lạc quyên vào những dịp đặc biệt và cho những mục đích từ thiện. Đối với Phật giáo phương Tây, vì hoàn cảnh xã hội không giống như hoàn cảnh các quốc gia phương Đông, nên pháp Khất thực khó thực hiện. Đa số các Tăng ni không đi khất thực nên các nhu cầu ăn uống đều do các Phật tử tại gia cúng dường.
Riêng tại Việt Nam hình ảnh các vị tăng áo vàng đi khất thực không còn nhiều nữa bởi nhiều lý do không hay cho lắm, trong đó có những vị Sư giả đi khất thực! Thật là buồn khi chính Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải ra thông tư giới hạn nghiêm ngặt việc khất thực để bảo vệ danh dự của tăng đoàn nhất là tăng đoàn của hệ phái Khất sĩ và Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam. Ðối với hệ phái Khất sĩ và Nam tông, sau ngày 1.5.2001, nếu vị nào vẫn muốn giữ hạnh khất thực thì phải xin phép với giáo hội và sẽ được giáo hội cấp gấy chứng nhận cùng với phù hiệu đàng hoàng. Các vị này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui định của giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ 8 giờ đến 10 giờ sáng. Sau 10 giờ sáng là phải trở về trú xứ. Chỉ được thọ nhận vật thực, không được nhận tiền bạc. Về hành trang chỉ gồm có một chiếc bình bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy. Ðối với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị trở lên, không được đi một mình riêng lẻ.
Nói tóm lại, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược thực, vì thế Tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực. Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp, là truyền thống của chư Phật. Các thầy Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng nhà, không phân biệt giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước, nhân dịp đó quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu hành. Khi đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, luôn điều phục thân tâm trong chánh niệm, đi theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhà thí chủ thỉnh mình. Còn khất thực phải theo thứ lớp. Ai cho gì ăn nấy, không được phân biệt thức ăn tốt xấu, ngon dở, chay mặn, không được qui định người thí chủ phải cúng dường như thế nào, mà là tùy điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ. Đó mới gọi là trí không phân biệt. Cũng vậy khi ăn thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân biệt món này với món khác, món ngon món dở và không phân biệt mùi vị. Mục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
师僧乞食-真 & 假
,NHIỀU NGƯỜI
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!


nhìn thấy một số các nhà sư đi khất thực, nhưng không biết phân biệt sư tu thật hay sư tu giả, có công đức hay không có công đức.
,Sau đây sẽ hướng dẫn cho người Phật tử và Tín thí chủ biết cách phân biệt.

,Trước hết, hãy nhìn vào y phục của vị ấy.
,Một nhà sư thật, khi đi khất thực sẽ đắp thượng y gọn gàng và trùm kín mình. Trừ trường hợp bất đắc dĩ, như bị mắc mưa, hay bị tai nạn chẳng hạn,..; thì vị ấy mới cởi thượng y vắt qua vai. Trong trường hợp đặc biệt nầy, vị ấy thường xếp chân kiết già và ngồi xuống yên tại một nơi.
,Ngược lại, nhà sư giả thì không thể có được oai nghi ấy.

,Đa số những tu sĩ giả họ thường mặc áo quần theo cách của "chú tiểu" và kiểu của Đại Thừa; vì họ không có thượng y, và dù có họ cũng không biết cách để đắp y trùm kín mình.

,Tiếp theo, nhìn cách đi, đứng hay ngồi của vị ấy.
,Một nhà sư thật đi chậm rãi đoan trang, không gấp gáp vội vàng, trừ vài trường hợp như tránh xe hay khi trời mưa tới...
,Khi đứng, vị ấy gần như đứng trong một tư thế bất động cả hai chân; không mỏi, không lắc lư nhún nhảy. Khi ngồi cũng gần như vậy.
,Ngược lại, nhà sư giả thì đi đứng hấp tấp, dáo dác. Khi đứng thì dễ mỏi và lắc lư, chao đảo mãi. Khi ngồi thì như kẻ ăn mày, vì kẻ ấy không thể nào ngồi kiết già hay ngồi yên theo xu hướng bất động.

,Tiếp theo, hãy nhìn đôi mắt và cách nhìn ngó của vị ấy.
,Nhà sư thật, có đôi mắt nhìn thẳng, hoặc nhìn xuống đất khoảng một tầm trước mặt. Đôi mắt điềm tỉnh, như không hề thấy ai.
,Ngược lại, nhà sư giả thì đôi mắt nhìn khắp nơi, tò mò và dáo dác, chao đảo; xu hướng về những nơi có thu hoạch tài vật hay tiền bạc.
,Bằng cách đó, nhà sư thật hay nhà sư giả, mọi người đều dễ dàng phân biệt rõ.

,Như vậy đã loại bỏ nhà sư giả rồi.
,Giờ sẽ phân biệt giữa nhà sư có hay không có công đức.
,Ở đây, cần hiểu rằng: khất thực là một Pháp hành căn bản của người xuất gia thuộc về Chánh Mạng và là một chi phần của Pháp tu thiên về khổ hạnh; mà căn bản là hạnh thiểu dục tri túc, tức ít muốn và biết đủ.
,Cho nên, nhà sư thật có công đức chỉ đi khi cần thiết, vì bữa ăn hoặc do thiếu thốn thật sự. Còn nhà sư dư đủ mà vẫn đi, là do lòng tham và thường chỉ đi để kiếm tiền bạc.

,Do vậy, nhà sư thật có công đức, đi khất thực vì nhu cầu sự sống; với một nghiệp tùy thuận Chánh Pháp, chứ không phải vì lòng tham tài vật.
,Vị ấy thường thiếu thốn nên thân tướng thường ốm yếu và dễ xấu xí. Còn vị đi khất thực chỉ vì lòng tham, thì thân tướng thường đẹp đẽ; bởi họ đã có đời sống dư dật, ăn uống sung sướng, đầy đủ.

,Tâm lý con người thường ưa nhìn vẻ đẹp bên ngoài hay nơi nét mặt, nơi vóc dáng. Khi nhìn nhà sư đẹp đẽ, họ hay nghĩ rằng:
,-Vị nầy do có tu nhiều nên phát tướng tốt!
,Đó là một sai lầm khi đánh giá tổng quan về một nhà sư khất thực.

,Nhà sư có công đức thường ăn trong bình bát và sau khi ăn chuyên lo tu tập. Vị ấy thường ăn ngày một bữa trưa, ăn ít và ngủ ít để phá hôn trầm thụy miên, nên thân tướng thường gầy yếu.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì ăn dư ngủ đủ; nên thân tướng thường mập mạp, đẹp đẽ.

,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!


,Lại nữa, nhà sư có công đức thường bận y màu hoại sắc, màu sắc thô xấu, để hợp với những vết dơ do bụi bặm nơi y áo đã nhiều lần không kịp giặt.
,Vì sao vậy? Vì vị ấy, sau khi đi khất thực về, ăn xong, lo tu tập các thiền pháp.
,Khi trời thiếu nắng hay do thiếu nước, vị ấy không tiện giặt y. Hơn nữa, vị ấy thiên về khổ hạnh 3 y, (gồm chỉ 1y thượng, 1y trung và 1y hạ) nên ít khi có điều kiện giặt giũ. Do y thường có vết dơ, nên vị ấy hay chọn y màu hoại sắc.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì chẳng tu tập gì, nên rảnh rỗi. Người nầy vốn ưa làm đẹp; mà làm đẹp cũng là một cách để khi đi khất thực họ được nhận nhiều tài vật hơn, cho nên họ hay trau chuốt y phục. Người nầy thường sạch sẽ và quen ưa chọn màu y tươi vàng sáng sủa.
.......
...LẠI NỮA,
nhà sư có công đức đã thường tu tập pháp môn tọa thiền; nên khi cần ngồi xuống, vị ấy đã quen và chỉ thích ngồi kiết già.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì chưa từng tu tập pháp môn nầy, nên không thể nào ngồi theo được.

,Như vậy, ở trên đã nói lên đầy đủ cách phân biệt giữa nhà sư có hay không có công đức. Bây giờ sẽ nói đến những nhà sư có công đức tối thượng trong số ấy.
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,TRONG SỐ
những nhà sư đi khất thực được kể là có công đức, thì có những vị tối thượng.
,Vị nầy thật tâm hướng về giải thoát.
,Vì đời sống, vì sự thiếu thốn, vị ấy phải đi ra ngoài, mà thật thì người nầy không hề muốn.
,Vị ấy chỉ ưa yên tịnh tọa thiền trong am cốc.
,Vị nầy chi nhận tiền trong bình bát khi chưa có am cốc để ở.
,Bởi vì, thời nay, đất đai khắp nơi đều có chủ. Muốn làm am cốc thì phải có tiền để mua đất, chứ chẳng mấy ai cho không cả, trừ vị đủ duyên phước mới nhận được đất cúng dường.

,Khi đã có am cốc, vị ấy vẫn đi khất thực mỗi ngày; vì đó là hạnh nuôi sống theo CHÁNH MẠNG; đúng với Chánh Pháp, là một chi phần của Bát Thánh Đạo; nhưng vị ấy sẽ không bao giờ nhận tiền bạc nữa, dù là trong bình bát hay bất cứ nơi nào khác.
,Trong trường hợp nầy, mọi người cần biết phân biệt với các ông sư Khất Sĩ giả danh cao thượng.
,Những người ấy, khi đi khất thực họ cũng làm bộ không nhận tiền bạc; nhưng về am thất, về chùa, về tịnh xá thì họ lại nhận tiền triệu cho đến bạc tỷ!
,Một khi đã không nhận tiền bạc, tức muốn giữ thanh tịnh giới nầy, thì các bậc Chân Nhân sẽ không nhận dù là trong bình bát hay bất cứ nơi nào khác. -Nhà sư Khất Thực,
Ai là Tối thượng trong những vị có Công Đức?

...NHƯ VẬY,
ngày nay, chỉ vì đời sống hoặc vì cần có am thất để ở, để thuận tiện cho việc tu tập; mà nhà sư thật sự có công đức phải đi khất thực và phải nhận tiền bạc, dù vị ấy hoàn toàn không muốn.
,Cho nên, vị ấy luôn đi trong trạng thái mệt mỏi và nhàm chán. Dù đi, vị ấy cũng không chú ý gì đến thu hoạch, tài sản, vật thực hay tiền bạc. Vị ấy đi như phải thực hành một nhiệm vụ một cách miễn cưỡng.
,Vị nầy nhàm chán sự tiếp xúc, không ưa chỗ đông người, ồn ào, tấp nập.
,Ngược lại, các nhà sư giả mạo hoặc không có công đức thì rất thích những chỗ kể trên.

,Trên đường đi, vị ấy thường suy niệm về Phật Pháp và không chú ý gì đến ngoại cảnh, trừ khi phải tác động. Xu hướng của vị ấy là luôn tìm chỗ ít người, mát mẻ, sạch sẽ; xếp chân kiết già rồi ngồi xuống cho đến khi nào thỏa mãn, và lệ thường thì vị ấy chỉ đứng dậy bỏ đi khi bị nắng.

,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!

,Nơi nào vị ấy xếp chân kiết già ngồi xuống trong tư thế tọa thiền như vậy, nếu nơi ấy, người Phật tử và Thí chủ không biết chú ý đến, thì rõ biết Đạo Phật ở xung quanh vùng ấy chỉ có bề mặt mà thật sự là không có nguồn gốc. Ở đó, đồng bào đã quen lễ lạy tượng Phật bằng đá, bằng bê tông cốt sắt, nhưng không nhìn thấy hình ảnh của Đức Phật khi Ngài còn sống.
,Khi còn tại thế, khi đi khất thực, Đức Phật của chúng ta thường hay ngồi xuống như vậy.

,Với vị ấy, tâm xu hướng về ly tham. Thân xu hướng về tọa Thiền.
,Đó là vị tối thượng trong các nhà sư được kể là có công đức khi đi khất thực.
.......
...HẠNH PHÚC THAY,
phước đức thay khi có người Phật tử hoặc Thí chủ đặt một vài thứ gì đó vào bình bát của vị ấy; bằng cách hoan hỷ, cung kính và không luyến tiếc.
,May mắn thay, nếu có ai đó đến bên vị ấy và thưa hỏi những điều liên quan đến Phật Pháp. Người ấy sẽ được thành tựu Chánh Kiến và được nhiều lợi ích.

,Cũng cần lưu ý rằng, nhà sư khất thực luôn phải "đầu trần chân đất", vì đây là pháp môn tu hành xu hướng về khổ hạnh.
,Với nhà sư thật sự thì phải có sức kham nhẫn. Vì vậy, vị ấy có khả năng chịu đựng, dù cho trời nắng như đổ lửa hay mặt đường nóng bỏng. Vị ấy vẫn đi, bình thản, an nhiên và tự tại.
,Vì nhu cầu cuộc sống, một vài khi vị ấy phải đi sâu vào những nơi đông người qua lại, thí dụ như đi vào trong các khu chợ. Trong trường hợp nầy, các bảo vệ khu chợ thường hay xua đuổi; có khi chúng còn dùng những lời mất lịch sự, thô lỗ, thóa mạ.
,Thật là tội lỗi.
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,Cuối cùng, là nói đến vị Thánh Nhân hoặc vị Chân Nhân, khi họ đi khất thực.
,Các vị ấy, hiện nay người ta hiếm gặp trên cõi đời.
,Những vị nầy, hoàn toàn không cất chứa vật thực. Họ sẽ đi khất thực mỗi ngày để xin đồ ăn vào buổi sáng và hoàn toàn không nhận tiền bạc, dù bất cứ nơi đâu.
,Sau khi khất thực về và ăn xong, vị ấy sẽ an trú trong thiền định và hướng tâm đến giải thoát.
,Các vị nầy sẽ thực hành những pháp môn còn lại để tiến tới chứng đắc đạo quả.
,Với các vị đó, thật đáng gọi họ là những mảnh ruộng hạnh phúc (phước điền) vô lượng ở đời, sau Đức Phật và các bậc Thánh Nhân.

phanblogs: ADI ĐÀ PHẬT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Vui lòng viết Tiếng Việt. Có dấu.
Nhận xét luôn luôn được kiểm tra trước khi xuất bản. :). Vì vậy bạn đừng cố SPAM
Cảm ơn bạn