Tìm kiếm hiệu quả

Đặt tên cho con sinh năm Tân mão 2011

Phanblogs
ĐẶT   TÊN  CON NĂM  TÂN   MÃO  (2011)

***

Sinh năm Tân Mão , tên  cần có :-

*Bộ  Mộc   木(cây) :- chủ về nghề nghiệp, chức vụ ổn định.

*Bộ  Mễ    米 ( gạo)   :- chủ về  vật chất, tiền bạc sung túc.

*Bộ  Đậu    豆(hạt đậu) :-  chủ về  vật chất, tiền bạc sung túc.


Muốn đặt tên, chọn một chữ có bộ Mộc rồi ghép với chữ có bộ Mễ hay bộ Đậu  là tốt được cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần.

*Tên  kỵ  có  bộ  Tâm  心và  những chữ có liên quan  đến Long 龍, Thìn 辰(rồng)
Để chọn được một tên gọi hay và có tác động tốt cho thời vận của người tuổi Mão, bạn nên chú ý những điều sau:
Vì Hợi, Mão, Mùi là tam hợp nên bạn có thể dùng những chữ đó khi đặt tên cho người tuổi Mão. Những tên có các chữ đó gồm: Hào, Gia, Nghị, Chu, Dự, Thiện, Nghĩa, Tường, Nghi…
Do Mão thuộc hành Mộc nên tên của người tuổi Mão có chứa bộ Mộc sẽ rất tốt cho tài vận của họ. Bạn có thể chọn những tên như: Mộc, Sâm, Tài, Đồng, Mai, Tùng, Thực, Diệp, Hóa, Thụ…
Vẻ ngoài của mèo là yếu tố được chú ý đầu tiên, nó luôn tìm cách làm sạch bộ lông của mình. Vì vậy, những tên giúp thể hiện vẻ đẹp đó như: Nhan, Chương, Tố, Duy, Tú, Tráng, Phúc, Lễ… cũng rất phù hợp với người tuổi Mão.
Trong văn hóa Trung Quốc, năm con mèo được thể hiện bằng hình ảnh biểu trưng là con thỏ. Thỏ là loài động vật thích ăn cỏ, vì vậy những tên gọi có chứa bộ Thảo như: Phương, Đài, Danh, Như, Bình, Thanh, Cúc, Dung, Diệp… rất phù hợp với người cầm tinh con giáp này.
Ngoài ra, thỏ còn rất thích ăn những loại ngũ cốc. Do đó, những chữ có chứa các bộ là tên gọi của ngũ cốc (Hòa, Đậu, Mễ, Kiều, Tắc, Đạo, Thục) như: Hòa, Khoa, Trình, Đạo, Hoạch, Kiều, Phong, Kiên, Phấn, Lương… cũng thường được sử dụng.

Tuổi Mão

Để đặt tên cho con tuổi Mão, bạn có thể tham khảo thêm các thông tin về bản mệnh, Tam hợp hoặc nếu kỹ lưỡng có thể xem Tứ Trụ, Tử Vi (nếu bé đã ra đời mới đặt tên). Có nhiều thông tin hữu ích có thể giúp cho cha mẹ chọn tên hay cho bé.

Tam Hợp

Tam Hợp được tính theo tuổi, do tuổi Mão nằm trong Tam hợp Hợi – Mão – Mùi nên những cái tên nằm trong bộ này đều phù hợp và có thể coi là tốt đẹp.

Bản Mệnh

Bản Mệnh thể hiện tuổi của con thuộc Mệnh nào và dựa vào Ngũ Hành tương sinh tương khắc để đặt tên phù hợp. Thông thường trên lá số tử vi thì Mão thuộc Mộc, vì vậy các cái tên phù hợp với Thủy, Mộc, Hỏa đều tốt.
Đặt tên cho con tuổi Mão
Tuy nhiên nếu muốn xem kỹ hơn đối với từng tuổi Mão thì có thể lưu ý bản mệnh theo năm. Cụ thể:
  • Tân Mão: Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)
  • Quý Mão: Kim Bạch Kim (vàng trắng)
  • Ất Mão: Đại Khê Thủy (nước khe lớn)
  • Đinh Mão: Lư Trung Hỏa (lửa trong lu)
  • Kỷ Mão: Thành Đầu Thổ (đất trên thành)
Như vậy, với Tân Mão thì mệnh Mộc, Mão cũng thuộc Mộc do vậy có thể chọn tên theo nghĩa Thủy (nước) là tốt đẹp. Nếu bạn cho rằng mèo sợ nước thì có thể chọn bộ Mộc để đặt tên cho con, cũng rất nhiều tốt đẹp.

Tứ Trụ

Dựa vào ngày, giờ, tháng, năm sinh của bé để quy thành Ngũ Hành, nếu bé thiếu hành gì có thể chọn tên hành đó. Năm Mão chắc chắn chứa ít nhất 1 hành Mộc, cộng với bản mệnh của bé, của bố mẹ sẽ có 11 yếu tố được xem xét.

Tử Vi

Tử Vi thiên về xem vận hạn và chiêm nghiệm cho cuộc đời con người, tuy nhiên cũng có thể dựa vào hướng phát triển phù hợp của bé để chọn cái tên phù hợp. Chẳng hạn nếu cung Tài tốt đẹp thì những cái tên tài lộc sẽ mang ý nghĩa hỗ trợ rất tốt, ví dụ: Phú, Lộc, Tài, Ngân, Kim, Bảo v.v…

XU HƯỚNG ĐẶT TÊN

CHO CON

- Thiên Việt
Như đã nói, nhiều người muốn đặt cho con những cái tên mang lại nhiều điều may mắn, nên có những cách để lựa chọn như :
- Mong thành đạt : có những tên Vượng, Ích, Thành, Đạt, Tiến, Thịnh, Tài, Kiệt, Hiển, Vinh, Phát…
- Muốn giàu sang phú quý : có Phúc, Lộc, Vượng, Phát, Tài, Kim, Ngân, Châu, Báu, Ngọc, Ngà, Đại v.v… tránh tên Bần, Tiện, Khó, Khăn, Bé, Ít, Thiểu…
- Mang tính gia phong đạo đức : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Liêm, Chính, Hiếu, Trọng, Đạo, Đức…
- Mang tính sức khoẻ : Cường, Cương, Lực, Kiện, Cao, Tráng, An, Khang… nhưng tránh Nhu, Yếu, Bại, Liệt, Kiết, Thấp, Khớp…
- Mang tính phong cách : Hùng, Dũng, Mạnh, Mãnh, Can, Trường, Quang, Minh, Sáng, Khai…
Trước những năm 1945 khi nền Nho học còn thông dụng, các bậc cha mẹ đặt tên con theo lối chiết tự, nghĩa rất hay và thâm thúy nhưng cái tên nghe lại thô kệch, với cách ghép 2 chữ, 3 chữ đến 10 chữ thành một nghĩa.
Bản chất mỗi chữ đã mang ý nghĩa của thuyết Bát Quái lấy trong Hà Đồ Lạc Thư như :
- Dùng 1 nét hay một chữ gọi là Thái Cực (như chữ Nhất chỉ một nét), có nghĩa ngôi cao nhất trong trời đất, gần như đấng tạo hóa đã tạo ra vạn vật muôn loài.
- Dùng 2 nét hay hai chữ ghép gọi là Lưỡng Nghi (như chữ Nhị có hai nét từ chữ Nhất ghép lại), có nghĩa Âm Dương giao phối, nơi sinh ra và thu về.
- Dùng 3 nét hay 3 chữ ghép gọi là Tam Tài (như chữ Tam có ba nét của chữ Nhất ghép lại), để chỉ ngoài Trời và Đất còn có con người.
- Dùng 4 chữ ghép là Tứ Tượng, 5 chữ là Ngũ Hành, 6 chữ là Lục Hào, 7 chữ là Thất Chính, 8 chữ là Bát Quái, 9 chữ là Cửu Trù, 10 chữ là Thành Quái v.v…
Đồng thời dùng tên 64 quẻ trong Chu Dịch để đặt tên, như muốn thành đạt đặt tên Tế (quẻ Thủy Hỏa Ký Tế) ghép với họ thành tên Trần Ký Tế hay Phạm Ký Tế… Tuy nhiên với người không thông hiểu nghĩa Hán Nôm hay Chu Dịch, cho chữ Tế là tế lễ, tế thần đồng nghĩa với việc quỳ lạy, van xin, chủ về quy thuận, quy hàng.
Đến nay tiếng Hán, tiếng Nôm đã mai một, nên không ai còn dùng cách chiết tự để đặt tên cho con cháu nữa, cũng như giữa chữ viết Hán Nôm và chữ Việt đã khác, có tên tuy đồng nghĩa nhưng không đúng nét, có tên lại mang hai ba nghĩa khác nhau (như chữ Tế nói trong thí dụ trên).
Ngoài ra trong xu hướng đặt tên cho con hiện nay, nhiều người đặt tên với sở thích cá nhân của vợ hay chồng, nên ngoài tên họ (đôi khi họ của cả chồng lẫn vợ ghép lại), chữ lót Văn hay Thị, rồi đến tên sở thích, hay sự ngưỡng mộ như Lê Nguyễn Thị Du Lịch (thích ngao du ngoạn cảnh), Nguyễn Trần Hoa Trinh Nữ (tên bài hát, cũng như muốn nói con gái có đạo dức gia phong), Phạm Đỗ Văn Mỹ Tâm (có lẽ thích ca sĩ Mỹ Tâm) v.v…
Cái tên đôi khi nói lên ước muốn tương lai cho con cái, đọc nghe kêu có ý nghĩa, nhưng chưa thật phù hợp với xã hội nhân văn. Bởi nếu tên con là Nguyễn Trần Hoa Trinh Nữ (5 chữ) chỉ là thiểu số cá biệt trong rừng tên 3 chữ từ bao đời nay, sẽ gây chú ý đến mọi người, khi lớn chúng gặp bạn trêu ghẹo “có còn trinh nữ không ?”, thật mắc cỡ vô cùng.

TÍNH CHẤT QUA 22 CHỮ CÁI

Ngoài những cách đặt tên cho con như đã dẫn, trong tâm linh đa số người Việt còn đặt tên con theo 22 chữ cái, với các ý nghĩa mang tính thần bí của mỗi chữ, sau khi đi theo nguyên tắc hộ tịch :
1- Họ : nguyên tắc về hộ tịch lấy họ cha, nếu cha vô danh mới lấy họ mẹ. Hiện nay nhiều cha mẹ lấy cả hai họ.
2- Chữ lót tên : ngày xưa chữ Văn dùng để chỉ con trai, chữ Thị để chỉ con gái. Nhiều địa phương miền Trung không dùng chữ lót mà chỉ có họ và tên. Ngày nay nhiều người không sử dụng Văn hay Thị mà thay bằng chữ ghép với tên như Trần Huệ Phương, Nguyễn Tâm Dung. Vì thế đôi khi mới đọc tên có thể lầm lẫn về giới tính.
3- Tên : là tên đi vào lý lịch. Như Trần Huệ Phương, ở các nước Âu Mỹ sẽ được ghi thành : Phương – Trần Huệ (tên đi trước họ). Nên dù tên đơn, tên ghép, cũng chỉ lấy một tên ở cuối là chính.
Nói về tính chất thần bí qua 22 chữ cái dùng đặt tên cho con (thực tế có đến 26 chữ cái, nhưng những chữ không phù hợp để đặt tên theo tiếng Việt như J, F, W, Z nên chúng tôi loại bỏ). Như muốn đặt tên như Phương xem vần P, tên Nhung xem vần N…
- Các vần A, S : tính cương quyết, thành thật nên hay cứng rắn trong quyết định, can đảm dấn thân và ghét kẻ xu nịnh. Những ai mang vần chữ cái A và S có tính tự tôn, tự đại, vì thế thích làm người chỉ huy, lãnh đạo hơn làm cấp dưới quyền. Cuộc sống tình cảm thường độc đoán, khắc khe nên gia đạo không trọn vẹn hạnh phúc. Công danh sự nghiệp dễ đạt đến thành công, tiền của đi song hành theo đường quan lộc.
- Các vần B, K và T : người có duyên ngầm, có số đào hoa và giỏi về giao tế ứng xử. Tính tình phúc hậu, thương người, đồng thời được mọi người giúp đỡ. Càng lớn tuổi danh vọng, địa vị càng cao, tiền tài không thiếu.
- Các vần C, L và U : có tính khiêm tốn, biết phục thiện, ham tìm tòi học hỏi. Người thông minh, sáng suốt khi giải quyết và có khả năng vượt mọi trở ngại để đạt mục đích. Trong tình cảm thường gặp đỗ vỡ, tuy nhiên đến hậu vận có một mái ấm hạnh phúc tuyệt vời. Công danh sự nghiệp thường không bằng phẳng phải có người giúp đỡ, tài lộc vì thế không có của để dành.
- Các vần D, M và V : thành công về sự nghiệp, danh vọng cũng như vật chất nhưng không to tát lắm. Về tình cảm có cuộc sống bình dị, chừng mực không ồn ào, thích nơi yên tĩnh. Tính tình ghét việc gian xảo thích có sự bình đẳng giữa mọi người, không lo xa, sống hết mình với vợ con và thân hữu nhưng do không phô trương thường dễ bị hiểu lầm. Những người mang vần D, M và V có số đào hoa, con cái có đứa thành đạt có đứa hư hỏng do “con gái đức cha, con trai đức mẹ”, hậu vận gặp nhiều biến đổi.
- Các vần E, N : thuộc chu kỳ nhập cung trung, là nơi xuất phát cũng như thu về, nên cuộc đời sướng khổ triền miên như câu “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh”, nhưng vẫn vượt qua được phong ba bão táp. Do mang tính chất thay đổi nên tích lũy được nhiều kinh nghiệm để phát huy những sáng kiến về sau. Thích di du lịch, giỏi ngoại ngữ, tình cảm cũng nhiều sôi nổi lẫn bi đát. Công danh sự nghiệp thường trung bình, nếu vượt quá giới hạn sẽ gặp hung sát. Tài lộc không có gì nổi bậc.
- Các vần G, P và Y : có tính trầm lặng, thích yên tĩnh và trung thực với bản thân, không khoa trương, rất tự giác cầu tiến để tự điều chỉnh lấy mình. Do có đời sống nội tâm cao dễ bị hiểu lầm là người ích kỷ. Về tình cảm thường cao số, nên những mối tình đầu hay tan vỡ cuối cùng chỉ lấy người tưởng không duyên số mà thành đôi. Công danh sự nghiệp không mấy thành đạt, số chỉ buôn bán nhỏ (tiểu thương), nhà đất tiền của không nhiều.
- Các vần H, Q : giàu sự tự tin thích tự lập, ưa nghe lời tâng bốc nên nhiều khi bị tiểu nhân lợi dụng. Tính hay can thiệp vào chuyện bất bình, có những can thiệp theo kiểu “ăn cơm nhà vác tù và hàng Tổng” nhưng vẫn thấy hứng thú lao vào, do tính hiếu thắng và tự đại. Có duyên ngầm nhưng nhút nhát trong tình cảm, cho nên đời sống tình cảm thường bình lặng, chấp nhận hạnh phúc sẵn có. Công danh sự nghiệp vững chắc từ tuổi 37 trở lên, nên bảo đảm cuộc sống từ hậu vận.
- Các vần I, R : biết hòa mình cùng tập thể nhờ tính thích hòa nhập, nhưng hay cố chấp bảo thủ, lại không thích đua chen, không biết lo xa nên coi thường đường công danh sự nghiệp. Trong tình cảm lại buông thả đam mê khi đã yêu ai, sẵn sàng chết vì yêu, nên khi có gia đình rất chung thủy với vợ biết lo cho con cái. Số thọ và đông con. Vần I và R mang con số 8 thuộc quẻ Cấn, có nghĩa là núi (Sơn) nên dù coi thường đường công danh sự nghiệp nhưng vẫn vững vàng, nhưng trì trệ phát triển. Tài lộc hơn trung bình, nếu bộc phát nhanh sẽ sớm tàn lụi.
- Các vần O, X : mang tính bặt thiệp, giao tế ứng xử tốt, duyên dáng trước mọi người, được giao nhiêu công viêc tưởng vượt quá khả năng nhưng vẫn hoàn thành xuất sắc. Khéo tay nên có khiếu về mỹ thuật điêu khắc, hội họa và âm nhạc (nhạc sĩ). Tình cảm vì thế rất ủy mị, thích được chiều chuộng và yêu thương.
Công danh sự nghiệp tuy không thành đạt vẻ vang, nhưng hậu vận cũng không khốn khó, có của cho con cháu. Nữ nếu hồng nhan sẽ bạc phận, không bạc phận cũng truân chuyên, nam bạo phát cũng bạo tàn.
Khi tìm vần đặt tên theo các tính chất trên, cần biểu thị tên lót và tên chính đúng với giới tính, để tránh gây lầm lẫn trong các loại giấy tờ không có nhân dạng, cũng là cách biểu thị tính Âm Dương được rõ ràng.
Như tên Lan, Cúc thường đặt tên cho nữ, còn Hùng, Mạnh thường đặt cho nam, trở thành tập quán và thói quen nhận định của mọi người.
Ngày xưa các bậc ông cha không đặt tên con cháu theo kiểu “ái nam ái nữ”, vì cho rằng sẽ có huông theo tên, thí dụ nam giới mà đặt tên Nguyễn Văn Liễu sau này sẽ có tính ẻo lã như con gái, ốm như thân liễu, cành liễu v.v…


 1001 tên bé trai : https://docs.google.com/Doc?id=dgx6bq5c_11f5cnhcct&pli=1
1001 tên bé gái : https://docs.google.com/Doc?id=dgx6bq5c_12c6w5thgj