Tìm kiếm hiệu quả

Làm cách nào bạn có thể làm tình nguyện nếu bạn không có thu nhập, không có tiền bạc và phải lo lắng về cách kiếm bữa ăn mỗi tối cho con cái bạn?


Trong 1 bài báo đăng trên Mạng Tình Nguyện Viên Thế Giới (1) tháng 12/2005, một sinh viên Đại Học ở Yemen đặt câu hỏi: “Làm cách nào bạn có thể làm tình nguyện nếu bạn không có thu nhập, không có tiền bạc và phải lo lắng về cách kiếm bữa ăn mỗi tối cho con cái bạn?. Xin phép những ai đang kêu gọi người Yemen làm tình nguyện, tôi muốn nói là: “Xin hãy suy nghĩ kỹ!”.

Cũng trong một bài viết trên BBC nêu lại cùng một vấn đề, Tom Geoghegan phát biểu: “Viễn cảnh làm việc không lương ắt là không hấp dẫn lắm đối với một người vừa ra trường thiếu tiền mà lại muốn giúp mẹ kiếm tiền ăn. Khi việc làm tình nguyện thường chỉ được đưa ra 1 chiều như là 1 hoạt động lao động tự do được chính quyền công nhận thì những phản ứng như thế là hoàn toàn hợp lý.”

Việc phát triển xu thế sử dụng tình nguyện viên hiện nay, dù là ở nước giàu hay nghèo, đều tập trung chủ yếu vào các hoạt động được chính phủ phê duyệt: chính quyền hay các tổ chức lớn thông qua việc tài trợ cho các chiến dịch như thế khuyến khích mọi người làm việc không lương nhằm hướng đến nhu cầu của xã hội và cộng đồng, đến lợi ích là một cộng đồng tốt đẹp hơn, sự tự trọng được nâng cao hơn ở các tình nguyện viên và chi phí ít hơn dành cho các hoạt động như thế bởi vì những tình nguyện viên không được trả lương. Đó là một cách nhìn cực kỳ hạn chế về tình nguyện là gì, sức mạnh và tầm quan trọng thực sự của tình nguyện. Nên không có gì ngạc nhiên vì sao mà người thất nghiệp và người bị tước quyền công dân nhạo báng các chiến dịch như thế.

Lịch sử thế giới rất phổ biến những tấm gương tình nguyện do những người thất nghiệp và bị tước quyền công dân khởi xướng có tác động tích cực đến con người và môi trường mà họ ở trong thế đương đầu với chính quyền và các tổ chức quyền lực khác. Những hoạt động này đôi khi lần đầu tiên trao quyền công dân trọn vẹn cho những người tình nguyện. Những người đã đến miền Nam Hoa Kỳ trong những thập niên 50, 60 để đăng ký làm cử tri, để “thắp” tia sáng nhỏ nhoi lên sự bất công xã hội và ngăn chặn chính sách Jim Crow (2), một kiểu Apartheid của Mỹ? Họ chính là những người tình nguyện không kể đến lợi ích xã hội của bản thân và thường đấu tranh chống lại chính quyền và các tổ chức có thế ở địa phương để cải tiến xã hội Hoa Kỳ và thay đổi chính số phận bản thân họ tốt hơn. Hay người dân địa phương tham gia vào các cuộc vận động để phản đối tục lệ cắt bộ phận sinh dục nữ hay để nâng cao quyền nữ giới thường ở trong thế chống đối trực tiếp với những nhà cầm quyền cộng đồng đại phương và những tín ngưỡng lâu đời? Một lần nữa lại là những người tình nguyện và thường là người không có được công việc trọn vẹn. Nhưng hầu hết các chiến dịch và hội nghị về tình nguyện bỏ qua những người nồng nhiệt tham gia chiến dịch tình nguyện này, những người mà Mary Merrill (3) gọi là “những thành viên đội giữ gìn xã hội” và “những nhà doanh nghiệp”.

Nói đến tình nguyện như một cách để đòi hỏi với chính quyền hay các tổ chức quyền lực khác hoặc để trao quyền lợi cho người dân và cộng đồng có thể sẽ khá hấp dẫn đối với người sinh viên Yemen đã nói đầu bài hoặc những người thất nghiệp, bị tước quyền công dân. Tuy nhiên, các chiến dịch chính yếu sẽ tiếp tục thúc đẩy chương trình tình nguyện như là một hoạt động “có tâm” và là một cách mà chính quyền hay các tổ chức khác không phải trả cho những người hoạt động tình nguyện - một thông điệp vào lúc này không cộng hưởng cùng quá nhiều thông điệp khác.

Những chiến dịch như thế cũng tạo ra một xu hướng xem việc phục vụ cộng đồng ngang với hoạt động tình nguyện. Tuy nhiên, nếu một người được trả lương để giúp đỡ cho cộng đồng thì người đó không còn là tình nguyện viên. Điều đó không có ý nói rằng vì tờ biên nhận tiền mà người đó ít tận tâm hơn một tình nguyện viên bởi tôi chắc chắn đã gặp được những nhân viên được trả lương của UNDP (4) và các tổ chức phi chính phủhết lòng và tận tâm từng chút trong công việc của họ nhưnhững người phục vụ không lương. Nhưng “tình nguyện viên” nên mang ý nghĩa là một người làm không lương hay ít nhất hy sinh một khoảng thời gian có ý nghĩa của mình để phục vụ cộng đồng toàn thời gian. Trong một số trường hợp nhất định thì các tình nguyện viên là phù hợp nhất để bố trí nhân viên trong giai đoạn đầu trong khi ở các trường hợp khác có thể kêu gọi nhân viên được trả lương - những trường hợp này không liên quan gì đến việc có ngân sách để trả cho nhân viên hay không.

Nếu chính phủ hay các nhà hảo tâm muốn các chiến dịch tình nguyện ở các nước nghèo thực sự hướng đến việc làm tự nguyện hơn thì họ phải cập nhật triệt để thông điệp này. Họ phải sẵn sàng để chỉ ra vì sao là những tình nguyện viên chứ không phải là nhân viên được trả lương thích hợp nhất cho một nhiệm vụ riêng biệt, ngoài ra không có ngân sách nào trả cho những người làm việc đó. Họ phải chỉ ra làm thế nào những người mà họ đang cố gắng lôi kéo làm tình nguyện sẽ hưởng lợi trực tiếp dưới dạng một công việc tiềm năng, hay một cuộc sống tiến bộ hơn và một tiếng nói có trọng lượng hơn. Họ cần chỉ ra rằng làm tình nguyện có thể đem đến cho người ta một cái nhìn thực tế về công việc của chính phủ và các tổ chức khác, một cách nhìn và tiếng nói trên nền tảng thực tế để tán thành hay phản đối công việc đó. Họ cần giải thích rằng tình nguyện viên cũng có thể có những việc cần làm cho sự phục vụ của họ bởi vì những điều này thúc đẩy những tình nguyện viên làm việc. Hơn nữa chính phủ và các đơn vị hảo tâm cần để những cá nhân có trách nhiệm xác định các mục tiêu và nhng hoạt động tình nguyện của chính họ, cần sẵn sàng cho những hoạt động này và ít nhất là đôi khi làm trái với những chương trình của những người tham gia chiến dịch tình nguyện.

Nghĩ và nói khác đi là một vấn đề thử thách đối với những người chủ đạo khởi xướng hoạt động tình nguyện. Nhưng nếu không đối đầu với những thách thức này thì chúng ta sẽ khiến các thế hệ và những nhóm tình nguyện trên toàn thế giới rút khỏi hoạt động tình nguyện. Điều đó sẽ là một thảm kịch.

(1)World Volunteer Web www.worldvolunteerweb.org

(2)Jim Crow laws: là một số bộ luật được ban hành vào nửa cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, chủ yếu tại miền nam nước Mỹ, chống lại hầu hết các ưu tiên mới được dành cho người Mỹ da đen sau cuộc nội chiến.

(3)Mary Merrill: www.merrillassociates.net

(4)UNDP – United Nations Development Program – Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

Bài dịch từ dự án VTVV
Người dịch : NGUYỀN THỊ PHƯƠNG THUỲ

Original Article: Appallingly limited view of volunteering

Source: http://www.worldvolunteerweb.org/?id=10095

Bài được cung cấp bởi
Pinkie








Không có nhận xét nào: