Tìm kiếm hiệu quả

Các thể loại trẻ quấy khóc

Nếu trẻ vẫn phát triển bình thường, không hề mắc bệnh gì, ban ngày rất ngoan và ăn ngủ tốt, chỉ quấy khóc về đêm thì nguyên nhân có thể là do trẻ mới sinh ra chưa thích nghi với môi trường sống bên ngoài, dân gian thường gọi là “khóc dạ đề”. Khóc dạ đề thường kéo dài từ 2 đến 3 tháng, sau đó trẻ thích nghi dần với môi trường và hết khóc.

http://www.myorkutglitter.com/wp-content/uploads/2008/07/baby-cry.gif

Khi trẻ quấy khóc, để trẻ không có cảm giác bất an, cha mẹ cần phải bình tĩnh, đừng quá lo lắng, căng thẳng, không cáu gắt và càng không nên tập trung nhiều người dỗ trẻ cùng một lúc.

Chú ý là phải dỗ trẻ ngay, không bỏ mặc trẻ khóc làm trẻ mệt và hờn dỗi sẽ rất khó dỗ. Nếu để trẻ khóc lâu sẽ nuốt nhiều hơi làm giãn dạ dày và ruột gây đau bụng, trẻ lại càng quấy khóc hơn. Khi dỗ trẻ, nên chọn một tư thế bế mà trẻ ưa thích nhất, âu yếm và đu đưa trẻ nhẹ nhàng, hát ru kích thích trí não và tâm hồn trẻ phát triến, đứa trẻ nào cũng thích được nghe hát ru.

Ngoài ra, trẻ quấy khóc còn do nhiều nguyên nhân khác nhau, cha mẹ chú ý tìm ra nguyên nhân để có biện pháp dỗ trẻ thích hợp.

Nguyên nhân do ăn uống

Mỗi khi đói hoặc khát nước, trẻ thường quấy khóc. Cho ăn no và uống nước đủ theo nhu cầu thì trẻ sẽ hết khóc.

Nếu trẻ đang ăn bỗng có một kích thích nào đó, ví dụ như nghe thấy tiếng động, nhìn thấy một đồ chơi mới, có người lạ nói chuyện với trẻ... thì trẻ sẽ tập trung sự chú ý vào đó mà lơ là việc ăn uống hoặc thôi không ăn nữa. Sau đó trẻ có thể quấy khóc, nhưng nếu cho ăn tiếp, trẻ thường không ăn, hoặc ăn nhưng không tập trung như trước. Không nên ép cho trẻ ăn tiếp, hãy dỗ trẻ hết khóc, sau đó để trẻ chơi bình thường, đến khi nào đói hẳn mới tiếp tục cho ăn.

Trẻ ăn quá no, dạ dày và ruột bị giãn căng, gây cảm giác đau tức bụng, cũng là nguyên nhân làm trẻ quấy khóc.

Cho trẻ ăn đúng bữa, nếu ăn sữa bổ sung hoặc ăn dặm thì phải chú ý số lượng sữa và bột để tránh trẻ ăn quá no hoặc không đủ no. Tạo cho trẻ cảm giác ấm cúng, thoải mái, tránh những tác nhân kích thích làm trẻ mất tập trung trong khi ăn.

Nguyên nhân do môi trường

Nhiệt độ môi trường quá nóng hay quá lạnh, âm thanh quá ồn ào, ánh sáng quá chói... cũng làm trẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc.

Phòng của trẻ nên để thông thoáng, mát mẻ, giảm bớt cường độ ánh sáng đèn, không mở nhạc và ti vi quá to, mở nhạc nhẹ du dương êm ái.

Nguyên nhân từ quần áo, tã lót

Da trẻ bị lạnh do mặc quá ít quần áo vào mùa đông, hoặc do ẩm ướt vì đái… đều là nguyên nhân làm trẻ quấy khóc. Nhưng nếu mặc quá nhiều quần áo, quấn nhiều khăn, đội mũ dày và đi tất… cũng sẽ làm trẻ nóng nực, ra nhiều mồ hôi, khó chịu, quấy khóc nhiều.

Quần áo chật hay quấn tã, bỉm quá chặt sẽ làm trẻ mất cảm giác thoải mái dễ chịu. Còn quấn tã quá lỏng lại làm trẻ có cảm giác không an toàn.

Nguyên nhân do bệnh tật

Khi trẻ quấy khóc do bị ốm, có các dấu hiệu mà bà mẹ có thể nhận biết được như sốt, ngạt mũi, thở rên, thở khò khè, tiêu chảy... bà mẹ cần phải đưa con đến ngay các cơ sở y tế để khám bệnh.

Trẻ quấy khóc do đau bụng, thường có biểu hiện khóc thét bất thường, khóc từng cơn, bụng chướng, đi ngoài phân bất thường hoặc có máu... là những biểu hiện của các bệnh lý có thể gây nguy hiểm cho trẻ, cần phải nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện để khám và điều trị.

Trẻ bị táo bón có thể quấy khóc do khó chịu hoặc đau bụng. Cho trẻ uống nhiều nước hàng ngày, tăng cường uống nước hoa quả, ăn thêm chất rau. Nếu trẻ vẫn tiếp tục táo bón, phải đưa trẻ đi khám bệnh để tìm nguyên nhân và điều trị.

Còi xương suy dinh dưỡng hay mắc các bệnh mãn tính, cũng là nguyên nhân quấy khóc ở trẻ, cần phải có biện pháp điều trị triệt để. Trẻ khóc do bị ngứa vì rôm sảy, vì hăm, chỉ cần tắm rửa sạch sẽ hàng ngày, sử dụng phấn rôm, không cần phải dùng thuốc điều trị.

Một số nguyên nhân khác

Trẻ quấy khóc do cảm thấy cô đơn, cần người bế, cần người nói chuyện, thiếu ngủ, đang ngủ bị đánh thức dậy... là những nguyên nhân dễ dàng phát hiện và khắc phục.

Tiếng khóc sinh lý

Tiếng khóc sinh lý biểu thị phản ứng khó chịu đối với môi trường như nóng lạnh, đối với trạng thái cơ thể như đói, khát, buồn ngủ… là một vận động có ích cho toàn bộ cơ thể, làm hoạt động của phổi tăng lên, vận động cơ bắp tay chân phát triển. Một số tiếng khóc sinh lý thường gặp ở trẻ:

1. Khi đói, trẻ khóc với tiếng khóc này gần như gắn chặt với tiếng khóc kia, hoặc trẻ khóc rồi dừng lại, rồi lại tiếp tục khóc, xen giữa là những động tác mút tay. Nếu sau khi cho bú, một thời gian ngắn trẻ lại khóc thì có thể mẹ thiếu sữa, hoặc bú chưa no, hoặc sữa pha nhạt quá.

2. Khi khát trẻ khóc không to như khi đói, nếu dùng bình sữa cho trẻ ăn, trẻ sẽ không quay đầu đi, mà mút lấy đầu vú sữa, hoặc há miệng ra chờ đợi. Nếu không cho bú kịp thời thì trẻ mới khóc trở lại.

3. Khi buồn ngủ, trẻ khóc ban đầu tương đối thấp, nếu xung quanh ồn ào quá không ngủ được thì trẻ sẽ khóc to hơn, liên tục. Chỉ cần ôm ấp vỗ về trẻ sẽ ngừng khóc và ngủ.

4. Khi trẻ làm nũng, trẻ khóc lúc cao, lúc thấp, có thể không có nước mắt, chân tay múa máy lung tung, mắt nhìn sang trái sang phải. Khi đó bế ẵm và vỗ về trẻ.

5. Khi trẻ hoảng sợ, do tiếng động, ánh sáng, đêm tối… trẻ khóc thét lên, toàn thân dãy dụa lung tung. Trẻ bị kẹp cũng khóc thét và dãy dụa như vậy.

6. Khi đái dầm, nách bẹn bị hăm… trẻ khóc bình thường, không có gì đặc biệt, đôi khi thét to lên, nước mắt dàn dụa.

7. Ngoài ra trẻ còn khóc, làm nũng về đêm, có thể về đêm trẻ đói, khát, hoặc nhiệt độ trong phòng nóng lạnh quá, hoặc ban ngày trẻ đùa nghịch quá mức bị hưng phấn làm giấc ngủ xáo trộn, hoặc bực bội khó chịu, ngứa ngáy, đã gây quấy khóc.

Tiếng khóc bệnh lý

Tiếng khóc bệnh lý là tiếng khóc khi trẻ đau đớn hay trong người có gì trục trặc, rối loạn khó chịu, có thể phân biệt như sau:

1. Trẻ khóc từng cơn, kèm theo nôn mửa, đại tiện phân lẫn máu, là trẻ có khả năng lồng ruột.

2. Trẻ khóc thét liên tục, thỉnh thoảng ngừng một lát, rồi lại tiếp tục,

kèm theo nôn mửa là trẻ có khả năng có bệnh ở não hay màng não.

3. Trẻ khóc thét, không nhanh, không chậm, đều đều, sắc mặt trắng nhợt, vã mồ hôi, nôn mửa, tiêu chảy, không cho sờ vào bụng, nếu sờ vào thì khóc to hơn là trẻ có khả năng viêm ruột cấp, tiêu hóa trục trặc, ký sinh trùng (giun) hoành hành.

4. Trẻ khóc giọng khàn khàn, khóc liên tục, nhất là về đêm, khó thở, kèm theo sốt bỏ bú là trẻ có khả năng bị viêm amidan cấp.

5. Trẻ khóc với âm điệu bình thường, trẻ ở trạng thái không yên, dỗ

thế nào cũng không nín, đó là trẻ bị đau đầu, ngạt mũi, cảm cúm.

6. Trẻ khóc xong lại thở khò khè là trẻ có khả năng viêm phổi.

7. Trẻ khóc yếu ớt, xen lẫn tiếng rên ngắt quãng là trẻ có khả năng viêm phổi và suy tim, phải theo dõi sát sao.

8. Trẻ khóc không yên, kèm theo sốt, lắc đầu, vò tai, lấy tay ép vào vành tai lại càng khóc dữ dội là trẻ có khả năng viêm tai giữa.

9. Trẻ khóc suốt đêm, sợ hãi, vã mồ hôi nhiều là trẻ có khả năng bị còi xương giai đoạn đầu.

10. Trẻ khóc trước khi ngủ là thường trẻ bị giun kim, ở cửa hậu môn bò ra, gây ngứa ngáy, khó chịu.

11. Trẻ khóc khi đi tiểu tiện thường là trẻ bị viêm đường tiểu, có thể thấy miệng niệu đạo nhiễm trùng, tấy đỏ.

12. Trẻ khóc, không chịu bú, hễ ngậm vú thì khóc là trẻ có khả năng

niêm mạc lợi bị sưng, viêm miệng, nên không bú được.

13. Trẻ khóc dữ dội, luôn tay quờ quạng, vơ nắm mọi vật để ôm vào người là trẻ có khả năng bị mọc mụn, do ẩm nóng, gây ngứa ngáy, khó chịu.

14. Trẻ khóc sau khi đi đại tiện thường là trẻ bị rạn nứt hậu môn.

http://phunumoi.com/Upload/Images2009/05/10-05/313_j0178833_baby_cry.jpg




Không có nhận xét nào: