Tìm kiếm Blog này

Tập Luyện Dịch Cân Kinh


Tập Luyện Dịch Cân Kinh

- Phải có hào khí, nghĩa là phải có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.

- Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bệnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bệnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.

- Bắt đầu tập luyện cũng không nên làm tổn thương các ngón chân (sau buổi tập vuốt ve các ngón chân, mỗi ngón 9 lần). Nôn nóng muốn khỏi bệnh mà dùng nhiều sức sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách, mới kết quả tốt. Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nhẹ, dưới nặng” là sai hỏng.

- Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thường có trung tiện (đánh rắm), hắt hơi, và hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng… chỉ là hiện tượng bình thường, đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống, hợp với vũ trụ là “Thiên kinh địa trọng” (trên nhẹ dưới nặng).

- Sở dĩ có bệnh gan là do khí huyết tạng gan không tốt gây nên, khí bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết, do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là hiệu quả tốt.

- Về bệnh mắt, luyện Dịch Cân Kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nộ kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được, khi khí huyết không dẫn đến các bộ phận của mắt, sẽ sinh ra các bệnh tật về mắt. Đôi mắt là bộ phận thị giác cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.

Những phản ứng khi luyện tập

Dịch Cân Kinh

Khi luyện tập, cơ thể phải có những phản ứng, nhưng tất cả đều là hiện tượng thải bệnh, không nên lo nghĩ.

Liệt kê 34 phản ứng thông thường và còn

nhiều phản ứng không kể hết được

1) Đau buốt, 2) Tê dại, 3) Lạnh, 4) Nóng, 5) Đầy hơi, 6) Sưng, 7) Ngứa, 8) Ứa nước giải, 9) Ra mồ hôi, 10) Cảm giác như kiến bò, 11) Giật gân, giật thịt, 12) Đầu khớp xương có tiếng kêu lục cục, 13) Cảm giác máu chảy dồn dập, 14) Lông tóc dựng đứng, 15) Âm nang to lên, 16) Lưng đau, 17) Máy mắt, mi giựt, 18) Đầu nặng, 19) Hơi thở nhiều, thở dốc, 20) Nấc, 21) Trung tiện, 22) Gót chân nhức như mưng mủ, 23) Cầu trắng dưới lưỡi, 24) Đau mỏi toàn thân, 25) Da cứng, da dày rụng đi (chai chân), 26) Sắc mặt biến đi, 27) Huyết áp biến đổi, 28) Đại tiện ra máu, 29) Tiểu tiện nhiều, 30) Nôn, mửa, ho, 31) Bệnh từ trong da thịt bài tiếp ra, 32) Trên đỉnh đầu mọc mụt, 33) Ngứa từng chỗ hay toàn thân, 34) Chảy máu cam.

Các phản ứng trên đây là do trước khi bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ các thứ ứ đọng gọi là bệnh tật. Khi có sự phản ứng là có sự xung đột giữa chánh khí và tà khí nếu ta vẫn tập luyện sẽ sản sinh các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí. Ta tập đúng cách, làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi. Nhờ luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa nổi cặn bã ra ngoài nên sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo sợ cứ tiếp tục luyện tập như thường. Có một phản ứng hiển nhiên là khỏi một căn bệnh, cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt được hiệu quả tốt.

Luyện Dịch Cân Kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau:

- Nội dung: Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ. Lưu thông khí huyết, khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.

- Tứ trưởng tố: Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.

- Ngũ tam phát: Nghĩa là 5 trung tâm của huyệt dưới đây hoạt đdộng mạnh hơn lúc bình thường. Đó là: - Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu. – Lao cung: huyệt ở hai lòng bàn tay. – Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân.

Khi luyện tập, 5 huyệt này đều có phản ứng, làm thông suốt Nhâm Đốc và 12 kinh mạch đạt tới hiệu quả, làm tăng cường sức đề kháng, tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.

- Lục phủ ninh: Đó là ruột non, ruột già, mật, dạ dày, bong bóng, tam tiêu sẽ thông suốt nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi. Nếu không bị trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.

MỘT SỐ ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI

LUYỆN TẬP:

1. - Số lần vẫy tay không dưới 800 lần: Từ 800 lần lên dần 1.800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưởng cửa của điều trị. Người bệnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải thót hậu môn và bấm mười đầu ngón chân.

2. - Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh. Trưa trước khi ăn tập vừa. Tối trước khi ngủ tập nhẹ.

3. – Có thể tập nhiều tùy theo bệnh trạng: Có bệnh nhân tăng số vẫy tay tới 5, 6 ngàn lần trong mỗi buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.

4. - Tốc dộ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1.800 lần hết 30 phút (1 lần vẫy 1 giây): Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút, khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bệnh nặng thì nên vẫy hẹp và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh mau mệt, mà chậm quá thì không đạt tơi mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.

5. – Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít (nặng hay nhẹ). Vẫy tay là môn thể dục chữa bệnh, đặc điểm của nó là dùng ý không dùng sức, nhưng vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay, mà chủ yếu là chuyển động hai bắp vai. Bệnh phong thấp thì nên dùng sức ở mức nặng một chút. Bệnh huyết áp thì dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm.

Nói tóm lại, phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể: nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho thấy thoải mái, dễ chịu là đúng và tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ thể), động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (tức bệnh tật).

6. – Khi vẫy tay về phía sau dùng sức 7 phần, khi thả tay về phía trước thuộc về quán tính còn chừng 5 phần.

7. - Đếm số lần vẫy tay: đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình tĩnh, có tác dụng tốt cho não được thăng bằng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được bồi dưỡng.

8. – Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập được dĩ nhiên nơi nào có không khí trong lành và yên lĩnh vẫn tốt hơn.

9. - Trước và sau khi tập: Trước khi tập đứng bình tĩnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh về 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 10 lần. Người không đủ bình tĩnh nên cần chú ý đến điểm này.

10. - Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thở đều hòa, mắt sáng, nước giãi ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi tập đại đa số thấy có phản ứng nhưng về hiệu quả thì khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay không.

11. - Khi tập cần chú ý đến các điểm sau đây:

- Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư).

- Nửa nhân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực)

- Khi tay thả lại phía trước không dùng sức (nhẹ)

- Tay vẫy về phía sau dùng sức (nặng mạnh).

- Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay.

- Tập ngày buổi kiên quyết lựa chọn bệnh cho minh.

12. - Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhất định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận; thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không kết quả.

13. - Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không? Có thể sinh bệnh do tư thế không đúng và làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hạn hữu không tới 1%.

14. – Khi tập phải tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông.

Tóm lại cần lưu tâm vào những điều sau:

- Khi tập luôn luôn bám chặt các ngón chân xuống giày, dép, hay đồ lót chân.

- Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ tư thế “thượng hự hạ thực”

- Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1,800 lần mới có hiệu quả.

- Khi gặp phản ứng đừng ngại; đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng hãy tăng số lần vẫy tay lên.

- Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tường, tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bệnh tật đa dạng mắc phải.

Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bệnh mà còn là một phương pháp phòng bệnh rất hữu hiệu.

Tài liệu Dịch Cân Kinh này của cụ Lương y Trần Văn Bình, người đã phổ biến và đưa tài liệu cho Phạm Việt Hồng Lam, 43 tuổi (Giảng viên Hội Họa trường Cao Đẳng Sư Phạm Nhạc Họa) để tự chữa khỏi bệnh. Hồng Lam bị ung thư vòm họng ở giai đoạn II, lâm vào tình thế bế tắc. Anh đã được cụ Bình tráo tập tài liệu luyện tập Dịch Cân Kinh này, và anh đã luyện tập để tự chữa bịnh. Điều thần diệu đã đến, sau 3 tháng luyện tập bệnh của anh đã khỏi hẳn và sức khỏe ngày một tăng không ngờ (tài liệu được trao ngày 7/2/1989 và anh tập đến tháng 5/1989 thì hết bệnh).

Sau khi hết bệnh, anh Hồng Lam kể lại quá trình luyện tập chữa bệnh của mình cho bạn bè thân thuộc nghe, đồng thời anh cũng giới thiệu tập tài liệu này trên báo để chứng minh cho điều mình đã kể cũng như để cho đồng bào cả nước cùng biết. Tài liệu này đã trích lại từ tờ báo đó.


Thích Thông Phương

Hội Thiền Học Việt Nam

Vietnamese Buddist Meditation Congregation

Tham Khảo thêm
http://phanblogs.blogspot.com/2008/11/dch-cn-kinh.html





END


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Vui lòng viết Tiếng Việt. Có dấu.
Nhận xét luôn luôn được kiểm tra trước khi xuất bản. :). Vì vậy bạn đừng cố SPAM
Cảm ơn bạn