Tìm kiếm hiệu quả

Võ Nguyên Giáp

Võ Nguyên Giáp


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia




Võ Nguyên Giáp


Sinh 25 tháng 8, 1911


Hình:Vo Nguyen Giap.jpg

Đại tướng Võ Nguyên Giáp



Nơi sinh
Quảng Bình, Việt Nam


Thuộc
Quân đội nhân dân Việt Nam



Cấp bậc
Đại tướng


Chỉ huy
Việt Minh

Quân đội nhân dân Việt Nam


Tham chiến

Chiến dịch Điện Biên Phủ


Khen thưởng
Huân chương sao vàng[1]

Huân chương Hồ Chí Minh


Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8, 1911) là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã chỉ huy thắng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Ông được xem như một huyền thoại quân sự thế giới khi chỉ huy một quân đội nhỏ yếu đã đánh bại một cường quốc lớn thế giới.







Mục lục


[giấu]



[sửa] Tiểu sử


Ông Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Võ Quang Nghiêm là một nho sinh đi thi không đậu về làm hương sưthầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong . Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào. Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông bèn về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924miền Trung Việt Nam. Nguyễn Chí Diểu đã giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại Nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí sôi nổi trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.




Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang Thái


Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang Thái




Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân. Sau đó ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài. Ông tốt nghiệp đại học ngành LuậtKinh tế chính trị năm 1937. Năm 1934, ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1943), bạn học tại Quốc học Huế và là một đồng chí của ông (bà cũng là em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai). Năm 1943, bà Thái chết trong nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Tháng 5 năm 1939, ông nhận dạy môn sửtrường tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm Giám đốc nhà trường (tức Hiệu trưởng).



Từ 1936 đến 1939, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm này và bắt đầu các hoạt động của mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh trong một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam có tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh. Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.




Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh


Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh



Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Ngày 25 tháng 12 năm 1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, ông được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc giaDân quân tự vệ. Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1946, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi). Cũng trong năm 1946, ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai). Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ. Ông được phong Đại tướng ngày 25 tháng 1 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, cùng đợt có Nguyễn Bình được phong Trung tướng, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập. Từ tháng 8 năm 1945 ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.



Ông là một nhà vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du kích. Ông cũng là người lập kế hoạch và trực tiếp chỉ huy trận đánh Điện Biên Phủ và thắng Pháp năm 1954.


Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp:




Tướng Giáp báo cáo kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ


Tướng Giáp báo cáo kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ


Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm dấu ấn của ông trong việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.


[sửa] Sau Điện Biên Phủ




Bìa tạp chí Time, ngày 15-5-1972


Bìa tạp chí Time, ngày 15-5-1972



[sửa] Những hoạt động gần đây của Đại tướng


Thời gian gần đây ở tuổi đã cao, sức đã yếu ông vẫn quan tâm đến hiện tình đất nước. Khi vụ tham nhũng lớn ở Ban quản lý các dự án 18 (PMU18, Bộ Giao thông vận tải) xảy ra ông cũng đóng góp ý kiến thể hiện quan điểm tổng quan về vấn đề này, mong muốn đảngnhà nước sơm khắc phục những nhược điểm trong lãnh đạo. Ông viết: "Vụ PMU18 không chỉ là một sai phạm nghiêm trọng ở cấp vi mô mà đã bộc lộ những bất cập, yếu kém ở cấp vĩ mô, cả về tổ chức, cơ chế, phương thức, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, cả về công tác cán bộ, công tác kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước" và: "Vụ PMU18 được phát hiện trước Đại hội X là một may mắn cho Đảng ta. Tôi đề nghị Đại hội X coi trọng bàn về công tác xây dựng Đảng. Vụ PMU18 cần được Trung ương khóa IX kiểm điểm một bước và báo cáo ra đại hội, để đại hội thấy rõ tình hình nghiêm trọng của vấn đề, chứ không thể lùi việc kiểm điểm xem xét vụ này sau đại hội" [2]. [3]. [4]. Ông cũng không ngừng dõi theo từng bước phát triển của đất nước, trong đó cuộc sống hiện nay của những người nông dân luôn là mối quan tâm hàng đầu, ông vẫn thường nói: “Thương nhất là người nông dân”. [5]. [6]



Gần đây ngày 1 tháng 11 năn 2007 ông viết một bài đăng trên báo Đại đoàn kết tỏ ý phản đối chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội ở khu di tích 18 Hoàng Diệu, đồng nghĩa việc phá bỏ Hội trường Ba Đình mặc dù chủ trương này đã được Quốc hội Việt Nam thông qua tại phiên họp cuối cùng của Quốc hội khoá 11 ngày 2-4. Trong phần giới thiệu, tờ báo viết: "Vừa qua, trong dư luận xã hội có lan truyền tin cho rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết bức thư rất tâm huyết đề nghị Trung ương xung quanh chủ trương dỡ bỏ Hội trường Ba Đình, xây dựng toà nhà Quốc hội mới trên khu di tích Hoàng thành Thăng Long, nhưng thư không được các báo đăng", báo Báo Đại Đoàn Kết: "đăng toàn văn ý kiến này, với mong muốn các tầng lớp nhân dân cũng như các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đất nước nên tham khảo như một sự trăn trở, day dứt của một vị khai quốc công thần trước chủ trương nói trên, dù ngành xây dựng đã trình Chính phủ và đã được Quốc hội khoá 11 biểu quyết đa số." Trong thư Đại Tướng Giáp cho rằng "đã là di tích lịch sử mà xuống cấp thì phải tu sửa, bảo tồn chứ không phải phá bỏ đi". "Hiện nay, mặc dầu Quốc hội đã biểu quyết, nhưng cán bộ và nhân dân còn có nhiều ý kiến, lòng dân chưa yên". [7]

[sửa] Đánh giá








Là một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, Võ Nguyên Giáp đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, ông đã lãnh đạo quân đội đó giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc châu Âu. Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân.



Ông được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và lần lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam cho tới khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi bán đảo Đông Dương sau Hiệp định Paris (1973).


Mặc dù vậy, những năm cuối của ông trên chính trường không hoàn toàn xứng đáng với những gì ông đã đóng góp cho Việt nam. Là một vị tướng nhưng lại cho đảm nhiệm vấn đề "Sinh đẻ có kế hoạch" và suốt cả thời gian đó, gần như ông đã bị quên lãng. Sau này khi tướng De Catries quay lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ, người ta đồn nhau rằng, bên chính phủ muốn đưa tướng Văn Tiến Dũng ra tiếp đón và không hề nhắc tới ông. Ngay lập tức tướng De Catries đã phản đối, rằng người ông muốn gặp, là tướng Giáp và chính ông Giáp mới là người đã thắng ông.


Ngày 25 tháng 8 năm 2007, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mừng sinh nhật thượng thọ lần thứ 96. Ông là chính khách Việt Nam sống lâu nhất tính cho đến thời điểm này (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng mất năm 2000, thọ 94 tuổi).



Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên, Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các "Anh hùng châu Á" [2], tôn vinh các nhân vật nổi tiếng làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây. Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Việt Nam) [3]...



[sửa] Các tác phẩm


  • Vấn đề dân cày (đồng tác giả với Trường Chinh), 1938

  • Đội quân giải phóng, 1947

  • Từ nhân dân mà ra, 1964


  • Điện Biên Phủ, 1964

  • Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng, 1970

  • Những năm tháng không thể nào quên, 1972

  • Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân, 1972

  • Những chặng đường lịch sử (gồm 2 tác phẩm đã in trước đó là Từ nhân dân mà raNhững năm tháng không thể nào quên), 1977


  • Chiến đấu trong vòng vây, 1995

  • Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, 1979

  • Đường tới Điện Biên Phủ

  • Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử

  • Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng, 2000

  • If you download file in this blog
    I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
    For IE only

Không có nhận xét nào: